Thursday, July 19, 2007

ĐẠO ĐỨC THƯƠNG TRƯỜNG

Đạo đức trong kinh doanh không phải là chuyện mới. Lịch sử thế giới ghi nhận khái niệm này đã bắt đầu xuất hiện cách đây hàng ngàn năm cùng thời với nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristotle. Các nghiên cứu mới đây của Trường Đại học Nam California (Mỹ) cho thấy chính nhà triết học Hy Lạp cổ đại này lại là người có “tâm hồn kinh doanh” hơn ai hết chứ không phải là các nhà buôn cùng thời. Aristotle luôn đề cao ý tưởng nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh (trong đó có người đứng đầu tổ chức kinh doanh) không phải là gia tăng quyền lực của mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện và cơ hội tốt nhất để tất cả những người dưới quyền thể hiện được năng lực một cách cao nhất để sáng tạo, làm ra những sản phẩm tốt nhất cho xã hội và xây dựng “thương hiệu” của mình trong cộng đồng.
Xem ra ý tưởng của Aristotle vẫn còn là vấn đề thời sự của ngày hôm nay. Khi nền kinh tế thị trường Việt Nam bắt đầu manh nha đã có không ít nhà doanh nghiệp quan niệm đạo đức không phải là một phạm trù được quan tâm trong thương trường. Mối quan tâm hàng đầu của hầu hết doanh nghiệp là lợi nhuận, lợi nhuận nhiều hơn và siêu lợi nhuận. Họ quan niệm “thương trường là chiến trường”. Mà đã là “chiến trường” thì không chừa thủ đoạn nào cả miễn sao phải giành lấy chiến thắng.
Bởi vậy những năm qua trên thương trường Việt Nam đã xuất hiện nhiều chuyện đau lòng. Mặc dù luôn miệng gọi khách hàng bằng “thượng đế” nhưng sau đó không ít doanh nghiệp đã trắng trợn lừa dối “thượng đế” của mình vì những món lợi khổng lồ bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của “thượng đế”. Lợi dụng cơ chế quản lý, pháp luật về kinh tế thị trường còn chưa hoàn chỉnh, tình hình xã hội đang chuyển đổi còn tranh tối tranh sáng, sự tha hóa phẩm chất của những cán bộ, quan chức nhà nước trong việc giám sát kiểm tra, không ít doanh nghiệp đã sẵn sàng ăn gian nói dối để thu lợi bất chính.
Vụ “sữa tươi nguyên chất tiệt trùng” được làm bằng nguyên liệu…sữa bột của một vài công ty sữa trước đây đã làm dư luận bất bình là một điển hình về chuyện “nói một đàng làm một nẽo” của các doanh nghiệp. Thời đại thông tin, quảng cáo phát triển các doanh nghiệp tận dụng tối đa công cụ này để “tô hồng” cho sản phẩm của mình một cách không đứng đắn. Cũng nói về sản phẩm sữa, không ít nhà sản xuất hiện vẫn đang tiếp tục quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng rằng sữa của họ có chứa chất này chất kia giúp cho trẻ thông minh, sớm trở thành thiên tài. Ở các nước văn minh, những loại quảng cáo như vậy có thể bị phạt vì bị xem là lừa dối khách hàng.
Gần đây nhất là vụ nước tương có chứa chất gây ung thư 3-MCPD lên đến hàng nghìn lần mức cho phép được sản xuất và tiêu thụ tràn lan trên thị trường trong nhiều năm dài. “Thượng đế” bị lừa bởi những chiêu thức quảng cáo tinh vi, bởi những nhãn mác “hàng Việt Nam chất lượng cao”, “thương hiệu mạnh”…và sự nhắm mắt làm ngơ của các quan chức được dân trả lương để có trách nhiệm bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho xã hội. Vụ bồn chứa nước inox T.M chứa chất gây ung thư cao gấp nhiều lần do “treo đầu dê bán thịt chó”, đăng ký và quảng cáo sản xuất bằng lọai thép X nhưng khi thi công thì làm bằng lọai thép Y rẻ tiền hơn để hạ giá thành sản phẩm mặc dù hậu quả là lại tăng cường chất độc cho “thượng đế”. Có thể kể ra hàng ngàn thậm chí hàng vạn ví dụ tương tự về chuyện các nhà sản xuất, lãnh đạo các doanh nghiệp cam tâm lừa dối “thượng đế” chỉ để thu lợi kếch sù, làm giàu mau chóng một cách vô đạo đức. Điều đáng lo ngại hơn là sự im lặng đáng sợ của các nhà chức trách trước các hiểm nguy ngày càng trở nên phổ biến do sự làm ăn gian dối của các nhà sản xuất mang lại cho cộng đồng.
Đã có không ít người làm giàu nhanh chóng nhờ sự “xập xí xập ngầu” trong cơ chế quản lý và nhờ sự “bưng bít” thông tin của các nhà chức trách vô cảm, vô trách nhiệm với đồng lọai. Đáng ngạc nhiên là sau khi sự thật về những chuyện làm phi pháp, vô đạo đức đó được lôi ra ánh sáng vẫn chưa thấy ai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hay ít ra cũng có ai đó tự thấy trách nhiệm của mình để có lời xin lỗi các “thượng đế” đang xanh xám mặt mày vì chất ung thư.
Nhiệm vụ kinh tế của các doanh nghiệp trong cộng đồng là sản xuất và cung ứng hàng hóa – dịch vụ để có được lợi nhuận cần thiết. Nhưng bổn phận ấy chỉ có thể được xem là hoàn thành khi lợi nhuận được phân bổ đúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp và phân phối đồng thời cho các thành viên liên quan nhằm không chỉ góp phần trực tiếp vào sự tái tạo quy mô của các thành viên ấy mà còn đóng góp gián tiếp vào sự phát triển mở rộng của toàn xã hội. Vì thế, doanh nghiệp trong khi tìm kiếm lợi nhuận cho mình ít nhất phải tuân thủ các nền tảng luân lý xã hội và các thiết chế pháp lý của nhà nước. Chứ không phải “chiến thắng” bằng mọi cách, kể cả cái cách gian dối để thủ lợi riêng mình và thừa cơ lách luật bằng những chiêu thức núp dưới gầm bàn dơ bẩn.
6-7-2007

“ĐÙNG MỘT CÁI”!

Đề án tăng học phí được coi là sự kiện thu hút nhiều ý kiến phản biện tiếp theo sau đề án cổ phần hóa bệnh viện Bình dân tại TP. Hồ Chí Minh. Tại một hội nghị của UBMTTQVN TP.Hồ Chí Minh mới đây, rất nhiều ý kiến tỏ ra băn khoăn về việc đề án tăng học phí được dựa trên những cơ sở không hợp lý. Chẳng hạn như việc tăng học phí lấy cơ sở trên mức lương được tăng gấp 3 lần kể từ năm 1998 là không chấp nhận được. Bởi vì lương tuy có tăng lên gấp 3 lần nhưng trên thực tế chỉ là tăng danh nghĩa. Hơn nữa, lương đâu phải chỉ có chi cho học phí mà còn rất nhiều khoản chi khác trong gia đình, trong đó có rất nhiều khoản mà giá cả từ năm 1998 đến nay đã tăng lên gấp nhiều lần.
Một số ý kiến khác tỏ ra “thông cảm” với ngành giáo dục hơn khi cho rằng tăng học phí là việc cần làm nhưng không thể làm như cách hiện nay: “đùng một cái” tăng lên 2-3 lần. Không có ngân sách gia đình bình thường nào có thể kham nỗi nếu như trong gia đình có tới 2-3 con em đang đi học. Đặc biệt, khỏan tăng thêm đó là quá lớn so với các gia đình làm công ăn lương, buôn bán nhỏ, thu nhập thấp. Ngay cả các lọai hàng hóa, dịch vụ khác khi tăng giá cũng đều được xem xét tác động từ nhiều phía và được tăng dần theo thời gian chứ cũng không thể tăng theo kiểu “đùng một cái”!
Theo lý giải của các quan chức ngành giáo dục TP. Hồ Chí Minh, việc tăng học phí là để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các trường. Rằng mức học phí hiện hành được xây dựng từ năm 1998, trong khi lương cơ bản đã được tăng lên gấp nhiều lần từ đó tới nay. Vả lại, trên thực tế, với nhiều kiểu thu “không giống ai” hầu hết các trường học ở thành phố này đều đã thu số tiền tương đương với mức thu dự kiến tăng lên trong rất nhiều năm qua. Do đó, việc tăng học phí để “chính thức” các khỏan thu “không giống ai” từ trước tới giờ và quản lý tốt nguồn thu này là việc cần làm.
Tuy nhiên, các quan chức ngành giáo dục vẫn chưa khẳng định được rằng sau khi tăng học phí lên gấp 2- 3 lần để chính thức hóa các khỏan thu tràn lan trước đây thì liệu các trường có chấm dứt được các nguồn thu “không giống ai” nữa hay không? Bởi vì, theo điều lệ nhà trường đã được thực hiện từ nhiều năm qua, hội phụ huynh học sinh có thể huy động sự đóng góp của phụ huynh trên tinh thần tự nguyện. “Tự nguyện” như thế nào thì chắc mọi người trong cuộc đều biết, rất khó có khả năng từ chối. Cho nên, nhiều ý kiến lo ngại, tăng học phí nhưng có thể sẽ không chấm dứt được các khỏan thu “ngòai luông” vốn đã trở thành một “thói quen” dễ dãi trong rất nhiều năm qua tại hầu hết các trường học. Nếu tình hình diễn ra như vậy, việc tăng học phí sẽ trở thành gánh nặng cho không ít gia đình và chính bản thân các em học sinh đang có hòan cảnh khó khăn.
Đất nước hãy còn nhiều người nghèo, nhiều gia đình chỉ còn hy vọng lo lắng cho con em học hành thật giỏi giang để thoát khỏi cảnh nghèo, nhưng với chính sách học phí tăng “đùng một cái” như vậy và cộng với nhiều khỏan thu khác chưa được ngành giáo dục cam kết sẽ chấm dứt chắc chắn sẽ có nhiều gia đình nghèo phải bỏ cuộc và sẽ có nhiều số phận bất hạnh hơn xuất hiện trong xã hội vì thất học. Đất nước khó có thể phát triển nhanh, phát triển mạnh nếu tình trạng người nghèo thất học còn nhiều và còn chưa có lối ra.
Cũng như y tế, lĩnh vực giáo dục là một trong những họat động vì lợi ích cộng đồng và là một trong những họat động căn bản để chứng tỏ bản chất của chế độ. Xã hội hóa giáo dục, không có nghĩa là tận thu các nguồn đóng góp của nhân dân bất kể thành phần và khả năng tài chính của mỗi gia đình. Ngành giáo dục cần phân định rõ các lọai hình trường công lập, trường tư thục, trường quốc tế…Từng lọai trường có những quy định về học phí khác nhau. Trong đó, trường công phải là lọai trường có học phí thật thấp hoặc tiến tới không có học phí dành cho mọi học sinh có năng lực và ý chí dù là con nhà giàu hay nhà nghèo đều có cơ hội như nhau. Trước đây, khi đất nước còn nhiều khó khăn, mọi trẻ em đều được đến trường và chữa bệnh miễn phí. Nay cuộc sống đã khá hơn nhiều, các thành tựu kinh tế đã đưa đất nước lên một vị thế mới trong cuộc chơi toàn cầu sao lại phải tăng học phí, viện phí với cả những cơ sở giáo dục và y tế công lập? Các thành tựu kinh tế của đất nước lẽ ra phải được phản ánh rõ nét trong các chính sách an sinh xã hội để làm cho mọi người dân phải ngày càng yên tâm hơn với sự phát triển của đất nước chứ không phải là ngược lại!
03-7-2007

Friday, June 29, 2007

BẤT ĐỒNG VÀ ĐỐI THOẠI

Những cuộc trao đổi thẳng thắn, cởi mở, chân tình bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp là sự hiểu biết, cảm thông và hợp tác. Vì vậy, để giải quyết các mối bất hòa, hiểu nhầm hay thành kiến không có gì tốt hơn là phải ngồi lại với nhau để đối thoại thẳng thắn, cởi mở và chân tình.
Chấp nhận đối thoại cũng có nghĩa là chấp nhận ngồi cùng bàn với những người bất đồng chính kiến. Không có kẻ mạnh, người yếu mà chỉ có sự bình đẳng của lẽ phải, của lòng yêu nước, của một khát khao xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, công bằng và dân chủ.
Nói chuyện với cộng đồng người Việt tại Quận Cam, California trong chuyến thăm Mỹ vừa qua Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng cho rằng: “Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hoà. Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”.
Nhà bác học thiên tài Albert Enstein từng phát biểu một câu nổi tiếng có thể xem như là “slogan” cho thuyết tương đối của ông: “Mọi sự hiện hữu trong vũ trụ đều là tương đối, kể cả câu nói này”. Sở hữu một trí tuệ siêu việt, chinh phục những hiểu biết đỉnh cao của nhân loại, nhưng Enstein vẫn chưa bao giờ tự cho mình là chân lý.
Trong một xã hội dân sự luôn có nhiều nhóm lợi ích khác nhau cùng tồn tại. Những lợi ích khác nhau thường có khuynh hướng tương nhượng, hỗ trợ để cùng tồn tại và phát triển trong một xã hội văn minh. Tuy nhiên vẫn không thể tránh được những mâu thuẫn dẫn tới xung đột về lợi ích của các nhóm khác nhau. Trong những trường hợp đó, nếu nhóm nào cũng muốn giành lợi ích tuyệt đối cho mình và luôn khẳng định chỉ có lợi ích của nhóm mình mới là chân lý thì chắc chắn không thể giải quyết được mâu thuẫn, xung đột sẽ kéo dài và ngày càng căng thẳng. Sự xung đột đó, một mặt sẽ thúc đẩy quá trình phát triển đi lên nếu đó là một xã hội được tổ chức thông minh, biết cách khắc phục những khiếm khuyết cũng như được tổ chức tốt bởi một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân. Mặt khác sẽ dẫn tới sự trì trệ, tan rã hệ thống xã hội và làm thiệt hại cho đa số thành viên trong cộng đồng nếu “chân lý” luôn thuộc về một nhóm ít người có quyền lực chi phối toàn bộ hệ thống xã hội.
Xuất phát từ những lợi ích khác nhau cho nên các nhóm lợi ích trong xã hội có những quan điểm khác biệt nhau trong những công việc chung của cộng đồng là lẽ đương nhiên và bình thường. Điều quan trọng là tất cả những ý kiến khác biệt ấy đều có cơ hội để công khai, minh bạch trên những diễn đàn chính thức, bình đẳng. Nhà nước dưới sự giám sát của các cơ quan quyền lực của nhân dân sẽ đóng vai trò “trọng tài” để cân nhắc thiệt hơn cho lợi ích của toàn dân cũng như lợi ích của mỗi nhóm. Điều quan trọng là trong vai trò “trọng tài” nhà nước phải làm được một điều là khi lợi ích của toàn dân tăng lên cũng có nghĩa là lợi ích của tất cả các nhóm khác nhau trong xã hội đều có cơ hội để phát triển tương xứng.
Sự kiện “thí điểm cổ phần hóa bệnh viện Bình Dân TP.Hồ CHí Minh” gần đây cho thấy sự xung đột mạnh mẽ về lợi ích giữa những nhóm có quyền lợi khác nhau trong mối quan hệ với chủ trương này. Lúc đầu những thông tin về sự kiện này hầu như không được công khai và chỉ được triển khai hạn chế trong nhóm những người có liên quan và có quyền lực. Việc cổ phần hóa bệnh viện Bình Dân diễn ra trong thời gian đầu rất suông sẻ vì được sự đồng thuận rất cao trong một nhóm nhỏ có lợi ích và quyền lực trực tiếp. Thậm chí một số cổ phiếu đã được bán ra theo kiểu “lúa non” cho các “nhà đầu tư” được “rỉ tai”. Thế nhưng, với tư cách là đại điện cho lợi ích của toàn thể các tầng lớp nhân dân trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc TP.Hồ Chí Minh đã lên tiếng và yêu cầu đưa vấn đề ra công khai trước cộng đồng. Kết quả là UBNDTP.HCM mới đây phải ra quyết định ngưng lại chủ trương này vì có dấu hiệu làm thiệt hại tới lợi ích của đa số cư dân trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội và lợi ích cộng đồng. Đó cũng là kết quả của sự đối thoại thẳng thắn, công khai, minh bạch về một vấn đề rất nhạy cảm với toàn xã hội.
Muốn đối thoại để thông cảm, hiểu biết, hợp tác và đoàn kết cần phải biết chấp nhận những ý kiến khác biệt và xem đó là chuyện bình thường. Đối thoại chỉ có hiệu quả khi những người bất đồng chính kiến có thể ngồi lại với nhau chung một bàn như những người anh em cùng chung một Mẹ và cùng chung một ý chí, một mục tiêu vì sự thịnh vượng vững bền của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.
29-6-2007




Tuesday, June 19, 2007

“TRÁI TIM NÓNG, CÁI ĐẦU LẠNH VÀ HAI BÀN TAY SẠCH"

Mỗi năm tới ngày kỷ niệm Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6) tôi lại nhớ những năm tháng chập chững bước vào nghề. Nhớ người thầy đã dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên và quan trọng hơn là đã truyền lại cho tôi ngọn lửa của lòng đam mê nghề nghiệp cùng sự tỉnh thức của lương tri. Đó là một nhà báo cách mạng lão thành, xuất thân từ một phóng viên kỳ cựu của báo Cứu Quốc, một biên tập viên của Đài phát thanh Giải Phóng, tiếng nói của Mặt trận Việt Minh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vợ và một người con trai của ông đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất chiến trường Đông Nam bộ trong cuộc chiến chống Mỹ.
Giờ đây sau rất nhiều năm theo đuổi nghề báo, trải qua nhiều vị trí công tác cũng như nhiều lọai hình, nhiều cơ quan báo chí khác nhau tôi mới nhận ra mình thật may mắn vì đã có những bước đi ban đầu thật vững chắc dưới sự dẫn dắt của một người thầy giàu kinh nghiệm và giàu lòng nhân ái. Có thể trong cách nhìn của nhiều người khác, ông là một nhà báo hết sức bình thường. Nhưng sự có mặt của ông trong cuộc đời làm báo của tôi là một bước ngoặt định hình nên con đường mà tôi đã lựa chọn cho nghề nghiệp của mình.
Bằng những bài viết ngắn gọn, những ứng xử hết sức giản dị trong tác nghiệp và trong đời sống ông đã giúp chúng tôi – những sinh viên mới ra trường, nhận thức được phẩm chất quan trọng nhất của một người làm báo. Ở mọi thời đại, người làm báo nào cũng phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản và kỹ năng tác nghiệp phù hợp với trình độ phát triển của các loại hình báo chí khác nhau. Tuy nhiên, theo ông, thời đại nào cũng vậy, người làm báo chân chính ít nhất phải tự trang bị cho mình ba điều cơ bản. Đó là: “trái tim nóng, cái đầu lạnh và hai bàn tay sạch”.
“Một trái tim nóng” để luôn bắt nhịp được với thời cuộc. Biết vui với những thành tựu của đất nước, với niềm hạnh phúc của nhân dân. Phẫn nộ với những thói hư tật xấu, những tồn tại bất công xã hội. Thông cảm với những nỗi đau và bất hạnh của đồng loại. “Một trái tim nóng” để không tự biến mình thành “vô cảm”, hay “vô trách nhiệm” với xã hội trong khi thực hành công việc đầy áp lực và đầy cám dỗ của một nhà báo.
“Một cái đầu lạnh” để tỉnh táo thẩm định thông tin, phản biện và tự phản biện. Để biết phải, biết trái và trên hết là biết lắng nghe tiếng nói của lương tri. Trung thực và luôn tỉnh táo là một trong những phẩm chất rất quan trọng của người viết báo. Bình tĩnh khi tư duy trên một nền kiến thức cơ bản vững chắc cùng với ý thức phản biện với cả chính mình sẽ giúp nhà báo phân tích, xử lý thông tin chuẩn mực. Giúp nhà báo không đi quá trớn vì sự ngộ nhận của cảm xúc hay sự phiến diện của nhận thức. Cũng không rụt rè, không sợ hãi vì biết mình đang vững vàng trên hành lang an toàn của pháp luật và của lương tri. “Một cái đầu lạnh” để thể hiện trách nhiệm công dân của người cầm bút một cách đúng mực và thuyết phục, để không tự biến mình thành một kẻ “vô chính phủ”.
Nhưng những điều diễn ra bên trong “trái tim nóng” và “cái đầu lạnh” thường không dễ gì công chúng biết được. Nó phải được cụ thể bằng hành động và những hành động đó phải được thực hiện bởi “hai bàn tay sạch” thì mới thực sự có ý nghĩa với cộng đồng. “Hai bàn tay sạch” vừa là Nhân vừa là Quả từ sự thực hành đúng đắn của “trái tim” và “cái đầu”. Nó giúp cho nhà báo biết cách đưa “trái tim nóng” và “cái đầu lạnh” của mình tới đúng lúc đúng nơi cần sự có mặt của công luận mà không sợ bị “nhầm đường, lạc lối”. Đồng thời nó giúp cho người cầm bút cảm nhận nhạy bén tính bức xúc của thời sự, nhận thức đúng mức giá trị của sự kiện và biết cách truyền thông sao cho hiệu quả để cuối cùng mang lại lợi ích cho sự phát triển của toàn xã hội. “Hai bàn tay sạch” xét cho cùng, chính là cơ chế tự miễn dịch với cái ác giúp người cầm bút tự kiểm soát, giám sát chất lượng các họat động nghề nghiệp của mình theo hướng thiện để trở thành một cây bút được sự tín nhiệm của xã hội.
Có người nói nghề báo cũng giống như người chép sử của thời đại. Phải hết sức trung thực và đôi khi có thể hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ sự thật, để đem sự thật phơi bày ra ánh sáng ở những nơi nó còn bị che giấu vì những mục tiêu thấp hèn. Nghĩ cũng không phải là quá đáng, khi hàng năm tổ chức nhà báo thế giới đều đặn công bố những con số thống kê về các nhà báo bị giết chết, bị bắt cóc, bị hành hung, bị đe dọa bằng đủ mọi cách trong khi họ đang tác nghiệp, đang khai thác thông tin từ các cuộc chiến hay từ những tập đoàn tội ác…Họ không có bất cứ một thứ vũ khí nào để tự vệ ngoài ngòi bút và niềm khát khao tìm kiếm sự thật. Thế nhưng, họ luôn luôn có một chỗ dựa thật vững chắc để hết thế hệ này lại tới thế hệ khác dũng cảm dấn thân trên con đường phụng sự lẽ phải. Chỗ dựa đó chính là nhân dân. Nhân dân luôn nhận ra đâu là người chép sử của mình và luôn là người biết nâng niu, trân trọng, bảo tồn những bằng chứng lịch sử một cách đáng tin cậy nhất.

Thursday, May 24, 2007

CĂN BỆNH “VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA” CỦA NGÀNH Y TẾ!

Những tai biến dồn dập sau khi tiêm vacxin viêm gan siêu vi B cho trẻ trong mấy tuần qua đã làm cho các bậc cha mẹ thực sự hoang mang. Những ai đã từng làm cha làm mẹ mới cảm nhận được giây phút ngọt ngào khi bé cất tiếng khóc chào đời và mới có thể thấu hiểu được nỗi đau đớn tột cùng khi phải tận mắt chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của “thiên thần” bé nhỏ một cách đột ngột vì những lý do không đáng có và tệ hại hơn do sự tắc trách của ngành y tế.
Mặc dù hai trong bốn ca tử vong mới đây đã nhanh chóng được kết luận khỏi nguyên nhân do vacxin: bé gái tử vong ở Sơn La là do viêm phổi; bé tử vong ở TP.Hồ Chí Minh là do nhồi máu cơ tim cấp, do thuyên tắc động mạch vành trái. Tuy nhiên, ngành y tế từ lâu đã có quy định 15 điểm để đảm bảo an tòan tiêm chủng, trong đó điểm số 1 là phải khám phân loại trước khi tiêm và phải hoãn tiêm cho những trẻ đang bị sốt, nhiễm trùng cấp tính, có những dấu hiệu bất thường…Trẻ bị bệnh, có những dấu hiệu bệnh lý trước đó mà vẫn tiêm chủng dẫn đến tử vong, trách nhiệm của nhân viên y tế ở đâu?
Sau những tai biến thương tâm của các cháu, Bộ Y tế ngay lập tức “đá quả bóng” cho các nhà cung cấp vacxin: “Vacxin của hãng LG vào VN là do UNICEF và GAVI mua của LG rồi viện trợ cho VN”. Trong khi đại diện của UNICEF thì cho rằng: “Phía VN phải chịu hoàn tòan trách nhiệm trong việc kiểm sóat chất lượng và cho phép vacxin nhập vào VN”. Trước áp lực của dư luận, mới đây Bộ Y tế phải yêu cầu WHO tiến hành thanh tra về “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) của LG tại Hàn Quốc. Bởi vì, “năng lực” kiểm định vacxin của VN tới thời điểm này chỉ là lấy mẫu xác suất từng lô đem tiêm cho chuột. Nếu thấy chuột vẫn bình thường, khỏe mạnh sau khi tiêm là vacxin đạt độ an toàn!
Chưa kể, sự can thiệp của ngành y tế khi có tai biến chậm chạp tới mức khó hiểu. Sau cái chết của hai trẻ ở Hà Tĩnh ngày 23-4-2007 và tiếp theo mấy ca nghi ngờ do vacxin nữa, mãi đến ngày 9-5-2007 Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh mới có công văn gởi tới các cơ sở y tế trực thuộc yêu cầu tạm ngừng vacxin viêm gan siêu vi B do LG sản xuất. Thế nhưng, tới ngày 16-5-2007, Khoa phụ sản Bệnh viện Đại học Y Dược cách Sở Y tế có vài cây số mới nhận được công văn này. Ở các tuyến xa hơn, có lẽ thông tin “hỏa tốc” còn tới muộn hơn nhiều!
Sự tắc trách của ngành y tế đôi khi khiến người dân phải tự hỏi các chương trình, các họat động tác nghiệp của ngành có thực sự hướng tới lợi ích vì cộng đồng hay không? Không chỉ ví dụ về những trường hợp tai biến vacxin nói trên, chuyện giá thuốc leo thang liên tục hàng năm khiến ngành y tế “bó tay” còn nhân dân “trắng tay” mỗi khi bị đau bệnh đã là vấn đề nghiêm trọng. Từ đầu năm 2007 tới nay ít nhất đã có ba lần giá thuốc leo thang ngang nhiên bất chấp những “điệp khúc” rất quyết liệt về sự tăng cường quản lý giá thuốc của Bộ Y tế. Khi căn bệnh “viêm màng túi” của bệnh nhân ngày càng nặng, người ta buộc phải tự hỏi sự “bất lực” trong quản lý giá thuốc phải chăng là căn bệnh “vô phương cứu chữa” của ngành Y tế Việt Nam? Đã gần hai năm sau khi Luật Dược được ban hành các ngành chức năng vẫn chưa cho ra được các thông tư mới để hướng dẫn thi hành việc quản lý giá thuốc. Do “bất lực” hay do những động cơ, lợi ích cục bộ, cá nhân nào đó?
Chưa kể, ngành y tế nước nhà còn “phó mặc cho dân chúng” tự xử các vấn đề của cộng đồng khi làm ngơ trước các hiện tượng kiểu như “thần dược cứu nhân vật”. Không thể thống kê hết có bao nhiêu nạn nhân “tiền mất tật mang” và mất cả tính mạng vì những lọai “thần dược” như vậy đang mặc sức tung hoành mà chẳng thấy ngành y tế có động tĩnh gì đáng kể. Việc vacxin nhập vào VN qua UNICEP đạt chuẩn GMP hay không Bộ Y tế còn chưa biết dẫn tới những tai biến thương tâm, các lọai “thần dược” mặc sức lan tràn khắp hang cùn ngõ hẹp, từ thành thị tới nông thôn không rõ thành phần, tác hại và được bán như kẹo bánh trong tiệm tạp hóa càng chứng tỏ sự tắc trách dẫn tới “bất lực” của ngành này.
Quản lý tắc trách như vậy, người bệnh càng nghèo thêm, nhiều gia đình phải gánh nặng nỗi đau vì những cái chết oan uống của người thân, xã hội bị thiệt hại vì những mất mát phi lý. Chỉ có lợi và thuận tiện cho một số người thiếu trách nhiệm và vô cảm trước số phận của đồng bào mình mà thôi!
25-5-2007