Friday, June 29, 2007

BẤT ĐỒNG VÀ ĐỐI THOẠI

Những cuộc trao đổi thẳng thắn, cởi mở, chân tình bao giờ cũng mang lại hiệu quả tốt đẹp là sự hiểu biết, cảm thông và hợp tác. Vì vậy, để giải quyết các mối bất hòa, hiểu nhầm hay thành kiến không có gì tốt hơn là phải ngồi lại với nhau để đối thoại thẳng thắn, cởi mở và chân tình.
Chấp nhận đối thoại cũng có nghĩa là chấp nhận ngồi cùng bàn với những người bất đồng chính kiến. Không có kẻ mạnh, người yếu mà chỉ có sự bình đẳng của lẽ phải, của lòng yêu nước, của một khát khao xây dựng Tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, công bằng và dân chủ.
Nói chuyện với cộng đồng người Việt tại Quận Cam, California trong chuyến thăm Mỹ vừa qua Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng cho rằng: “Trong một gia đình 5-7 người đôi khi còn có những bất hoà. Trong một đất nước rộng lớn với hơn 80 triệu dân và 54 dân tộc khác nhau, nếu có những khác biệt, tôi nghĩ cũng là điều dễ hiểu. Chúng ta phải làm sao để thông cảm lẫn nhau, chia sẻ lẫn nhau và từng bước đạt được tiếng nói chung là xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh”.
Nhà bác học thiên tài Albert Enstein từng phát biểu một câu nổi tiếng có thể xem như là “slogan” cho thuyết tương đối của ông: “Mọi sự hiện hữu trong vũ trụ đều là tương đối, kể cả câu nói này”. Sở hữu một trí tuệ siêu việt, chinh phục những hiểu biết đỉnh cao của nhân loại, nhưng Enstein vẫn chưa bao giờ tự cho mình là chân lý.
Trong một xã hội dân sự luôn có nhiều nhóm lợi ích khác nhau cùng tồn tại. Những lợi ích khác nhau thường có khuynh hướng tương nhượng, hỗ trợ để cùng tồn tại và phát triển trong một xã hội văn minh. Tuy nhiên vẫn không thể tránh được những mâu thuẫn dẫn tới xung đột về lợi ích của các nhóm khác nhau. Trong những trường hợp đó, nếu nhóm nào cũng muốn giành lợi ích tuyệt đối cho mình và luôn khẳng định chỉ có lợi ích của nhóm mình mới là chân lý thì chắc chắn không thể giải quyết được mâu thuẫn, xung đột sẽ kéo dài và ngày càng căng thẳng. Sự xung đột đó, một mặt sẽ thúc đẩy quá trình phát triển đi lên nếu đó là một xã hội được tổ chức thông minh, biết cách khắc phục những khiếm khuyết cũng như được tổ chức tốt bởi một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân. Mặt khác sẽ dẫn tới sự trì trệ, tan rã hệ thống xã hội và làm thiệt hại cho đa số thành viên trong cộng đồng nếu “chân lý” luôn thuộc về một nhóm ít người có quyền lực chi phối toàn bộ hệ thống xã hội.
Xuất phát từ những lợi ích khác nhau cho nên các nhóm lợi ích trong xã hội có những quan điểm khác biệt nhau trong những công việc chung của cộng đồng là lẽ đương nhiên và bình thường. Điều quan trọng là tất cả những ý kiến khác biệt ấy đều có cơ hội để công khai, minh bạch trên những diễn đàn chính thức, bình đẳng. Nhà nước dưới sự giám sát của các cơ quan quyền lực của nhân dân sẽ đóng vai trò “trọng tài” để cân nhắc thiệt hơn cho lợi ích của toàn dân cũng như lợi ích của mỗi nhóm. Điều quan trọng là trong vai trò “trọng tài” nhà nước phải làm được một điều là khi lợi ích của toàn dân tăng lên cũng có nghĩa là lợi ích của tất cả các nhóm khác nhau trong xã hội đều có cơ hội để phát triển tương xứng.
Sự kiện “thí điểm cổ phần hóa bệnh viện Bình Dân TP.Hồ CHí Minh” gần đây cho thấy sự xung đột mạnh mẽ về lợi ích giữa những nhóm có quyền lợi khác nhau trong mối quan hệ với chủ trương này. Lúc đầu những thông tin về sự kiện này hầu như không được công khai và chỉ được triển khai hạn chế trong nhóm những người có liên quan và có quyền lực. Việc cổ phần hóa bệnh viện Bình Dân diễn ra trong thời gian đầu rất suông sẻ vì được sự đồng thuận rất cao trong một nhóm nhỏ có lợi ích và quyền lực trực tiếp. Thậm chí một số cổ phiếu đã được bán ra theo kiểu “lúa non” cho các “nhà đầu tư” được “rỉ tai”. Thế nhưng, với tư cách là đại điện cho lợi ích của toàn thể các tầng lớp nhân dân trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc TP.Hồ Chí Minh đã lên tiếng và yêu cầu đưa vấn đề ra công khai trước cộng đồng. Kết quả là UBNDTP.HCM mới đây phải ra quyết định ngưng lại chủ trương này vì có dấu hiệu làm thiệt hại tới lợi ích của đa số cư dân trong việc thực thi chính sách an sinh xã hội và lợi ích cộng đồng. Đó cũng là kết quả của sự đối thoại thẳng thắn, công khai, minh bạch về một vấn đề rất nhạy cảm với toàn xã hội.
Muốn đối thoại để thông cảm, hiểu biết, hợp tác và đoàn kết cần phải biết chấp nhận những ý kiến khác biệt và xem đó là chuyện bình thường. Đối thoại chỉ có hiệu quả khi những người bất đồng chính kiến có thể ngồi lại với nhau chung một bàn như những người anh em cùng chung một Mẹ và cùng chung một ý chí, một mục tiêu vì sự thịnh vượng vững bền của Tổ quốc Việt Nam thân yêu.
29-6-2007




Tuesday, June 19, 2007

“TRÁI TIM NÓNG, CÁI ĐẦU LẠNH VÀ HAI BÀN TAY SẠCH"

Mỗi năm tới ngày kỷ niệm Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6) tôi lại nhớ những năm tháng chập chững bước vào nghề. Nhớ người thầy đã dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên và quan trọng hơn là đã truyền lại cho tôi ngọn lửa của lòng đam mê nghề nghiệp cùng sự tỉnh thức của lương tri. Đó là một nhà báo cách mạng lão thành, xuất thân từ một phóng viên kỳ cựu của báo Cứu Quốc, một biên tập viên của Đài phát thanh Giải Phóng, tiếng nói của Mặt trận Việt Minh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Vợ và một người con trai của ông đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất chiến trường Đông Nam bộ trong cuộc chiến chống Mỹ.
Giờ đây sau rất nhiều năm theo đuổi nghề báo, trải qua nhiều vị trí công tác cũng như nhiều lọai hình, nhiều cơ quan báo chí khác nhau tôi mới nhận ra mình thật may mắn vì đã có những bước đi ban đầu thật vững chắc dưới sự dẫn dắt của một người thầy giàu kinh nghiệm và giàu lòng nhân ái. Có thể trong cách nhìn của nhiều người khác, ông là một nhà báo hết sức bình thường. Nhưng sự có mặt của ông trong cuộc đời làm báo của tôi là một bước ngoặt định hình nên con đường mà tôi đã lựa chọn cho nghề nghiệp của mình.
Bằng những bài viết ngắn gọn, những ứng xử hết sức giản dị trong tác nghiệp và trong đời sống ông đã giúp chúng tôi – những sinh viên mới ra trường, nhận thức được phẩm chất quan trọng nhất của một người làm báo. Ở mọi thời đại, người làm báo nào cũng phải trang bị cho mình những kiến thức cơ bản và kỹ năng tác nghiệp phù hợp với trình độ phát triển của các loại hình báo chí khác nhau. Tuy nhiên, theo ông, thời đại nào cũng vậy, người làm báo chân chính ít nhất phải tự trang bị cho mình ba điều cơ bản. Đó là: “trái tim nóng, cái đầu lạnh và hai bàn tay sạch”.
“Một trái tim nóng” để luôn bắt nhịp được với thời cuộc. Biết vui với những thành tựu của đất nước, với niềm hạnh phúc của nhân dân. Phẫn nộ với những thói hư tật xấu, những tồn tại bất công xã hội. Thông cảm với những nỗi đau và bất hạnh của đồng loại. “Một trái tim nóng” để không tự biến mình thành “vô cảm”, hay “vô trách nhiệm” với xã hội trong khi thực hành công việc đầy áp lực và đầy cám dỗ của một nhà báo.
“Một cái đầu lạnh” để tỉnh táo thẩm định thông tin, phản biện và tự phản biện. Để biết phải, biết trái và trên hết là biết lắng nghe tiếng nói của lương tri. Trung thực và luôn tỉnh táo là một trong những phẩm chất rất quan trọng của người viết báo. Bình tĩnh khi tư duy trên một nền kiến thức cơ bản vững chắc cùng với ý thức phản biện với cả chính mình sẽ giúp nhà báo phân tích, xử lý thông tin chuẩn mực. Giúp nhà báo không đi quá trớn vì sự ngộ nhận của cảm xúc hay sự phiến diện của nhận thức. Cũng không rụt rè, không sợ hãi vì biết mình đang vững vàng trên hành lang an toàn của pháp luật và của lương tri. “Một cái đầu lạnh” để thể hiện trách nhiệm công dân của người cầm bút một cách đúng mực và thuyết phục, để không tự biến mình thành một kẻ “vô chính phủ”.
Nhưng những điều diễn ra bên trong “trái tim nóng” và “cái đầu lạnh” thường không dễ gì công chúng biết được. Nó phải được cụ thể bằng hành động và những hành động đó phải được thực hiện bởi “hai bàn tay sạch” thì mới thực sự có ý nghĩa với cộng đồng. “Hai bàn tay sạch” vừa là Nhân vừa là Quả từ sự thực hành đúng đắn của “trái tim” và “cái đầu”. Nó giúp cho nhà báo biết cách đưa “trái tim nóng” và “cái đầu lạnh” của mình tới đúng lúc đúng nơi cần sự có mặt của công luận mà không sợ bị “nhầm đường, lạc lối”. Đồng thời nó giúp cho người cầm bút cảm nhận nhạy bén tính bức xúc của thời sự, nhận thức đúng mức giá trị của sự kiện và biết cách truyền thông sao cho hiệu quả để cuối cùng mang lại lợi ích cho sự phát triển của toàn xã hội. “Hai bàn tay sạch” xét cho cùng, chính là cơ chế tự miễn dịch với cái ác giúp người cầm bút tự kiểm soát, giám sát chất lượng các họat động nghề nghiệp của mình theo hướng thiện để trở thành một cây bút được sự tín nhiệm của xã hội.
Có người nói nghề báo cũng giống như người chép sử của thời đại. Phải hết sức trung thực và đôi khi có thể hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ sự thật, để đem sự thật phơi bày ra ánh sáng ở những nơi nó còn bị che giấu vì những mục tiêu thấp hèn. Nghĩ cũng không phải là quá đáng, khi hàng năm tổ chức nhà báo thế giới đều đặn công bố những con số thống kê về các nhà báo bị giết chết, bị bắt cóc, bị hành hung, bị đe dọa bằng đủ mọi cách trong khi họ đang tác nghiệp, đang khai thác thông tin từ các cuộc chiến hay từ những tập đoàn tội ác…Họ không có bất cứ một thứ vũ khí nào để tự vệ ngoài ngòi bút và niềm khát khao tìm kiếm sự thật. Thế nhưng, họ luôn luôn có một chỗ dựa thật vững chắc để hết thế hệ này lại tới thế hệ khác dũng cảm dấn thân trên con đường phụng sự lẽ phải. Chỗ dựa đó chính là nhân dân. Nhân dân luôn nhận ra đâu là người chép sử của mình và luôn là người biết nâng niu, trân trọng, bảo tồn những bằng chứng lịch sử một cách đáng tin cậy nhất.

Thursday, May 24, 2007

CĂN BỆNH “VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA” CỦA NGÀNH Y TẾ!

Những tai biến dồn dập sau khi tiêm vacxin viêm gan siêu vi B cho trẻ trong mấy tuần qua đã làm cho các bậc cha mẹ thực sự hoang mang. Những ai đã từng làm cha làm mẹ mới cảm nhận được giây phút ngọt ngào khi bé cất tiếng khóc chào đời và mới có thể thấu hiểu được nỗi đau đớn tột cùng khi phải tận mắt chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của “thiên thần” bé nhỏ một cách đột ngột vì những lý do không đáng có và tệ hại hơn do sự tắc trách của ngành y tế.
Mặc dù hai trong bốn ca tử vong mới đây đã nhanh chóng được kết luận khỏi nguyên nhân do vacxin: bé gái tử vong ở Sơn La là do viêm phổi; bé tử vong ở TP.Hồ Chí Minh là do nhồi máu cơ tim cấp, do thuyên tắc động mạch vành trái. Tuy nhiên, ngành y tế từ lâu đã có quy định 15 điểm để đảm bảo an tòan tiêm chủng, trong đó điểm số 1 là phải khám phân loại trước khi tiêm và phải hoãn tiêm cho những trẻ đang bị sốt, nhiễm trùng cấp tính, có những dấu hiệu bất thường…Trẻ bị bệnh, có những dấu hiệu bệnh lý trước đó mà vẫn tiêm chủng dẫn đến tử vong, trách nhiệm của nhân viên y tế ở đâu?
Sau những tai biến thương tâm của các cháu, Bộ Y tế ngay lập tức “đá quả bóng” cho các nhà cung cấp vacxin: “Vacxin của hãng LG vào VN là do UNICEF và GAVI mua của LG rồi viện trợ cho VN”. Trong khi đại diện của UNICEF thì cho rằng: “Phía VN phải chịu hoàn tòan trách nhiệm trong việc kiểm sóat chất lượng và cho phép vacxin nhập vào VN”. Trước áp lực của dư luận, mới đây Bộ Y tế phải yêu cầu WHO tiến hành thanh tra về “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) của LG tại Hàn Quốc. Bởi vì, “năng lực” kiểm định vacxin của VN tới thời điểm này chỉ là lấy mẫu xác suất từng lô đem tiêm cho chuột. Nếu thấy chuột vẫn bình thường, khỏe mạnh sau khi tiêm là vacxin đạt độ an toàn!
Chưa kể, sự can thiệp của ngành y tế khi có tai biến chậm chạp tới mức khó hiểu. Sau cái chết của hai trẻ ở Hà Tĩnh ngày 23-4-2007 và tiếp theo mấy ca nghi ngờ do vacxin nữa, mãi đến ngày 9-5-2007 Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh mới có công văn gởi tới các cơ sở y tế trực thuộc yêu cầu tạm ngừng vacxin viêm gan siêu vi B do LG sản xuất. Thế nhưng, tới ngày 16-5-2007, Khoa phụ sản Bệnh viện Đại học Y Dược cách Sở Y tế có vài cây số mới nhận được công văn này. Ở các tuyến xa hơn, có lẽ thông tin “hỏa tốc” còn tới muộn hơn nhiều!
Sự tắc trách của ngành y tế đôi khi khiến người dân phải tự hỏi các chương trình, các họat động tác nghiệp của ngành có thực sự hướng tới lợi ích vì cộng đồng hay không? Không chỉ ví dụ về những trường hợp tai biến vacxin nói trên, chuyện giá thuốc leo thang liên tục hàng năm khiến ngành y tế “bó tay” còn nhân dân “trắng tay” mỗi khi bị đau bệnh đã là vấn đề nghiêm trọng. Từ đầu năm 2007 tới nay ít nhất đã có ba lần giá thuốc leo thang ngang nhiên bất chấp những “điệp khúc” rất quyết liệt về sự tăng cường quản lý giá thuốc của Bộ Y tế. Khi căn bệnh “viêm màng túi” của bệnh nhân ngày càng nặng, người ta buộc phải tự hỏi sự “bất lực” trong quản lý giá thuốc phải chăng là căn bệnh “vô phương cứu chữa” của ngành Y tế Việt Nam? Đã gần hai năm sau khi Luật Dược được ban hành các ngành chức năng vẫn chưa cho ra được các thông tư mới để hướng dẫn thi hành việc quản lý giá thuốc. Do “bất lực” hay do những động cơ, lợi ích cục bộ, cá nhân nào đó?
Chưa kể, ngành y tế nước nhà còn “phó mặc cho dân chúng” tự xử các vấn đề của cộng đồng khi làm ngơ trước các hiện tượng kiểu như “thần dược cứu nhân vật”. Không thể thống kê hết có bao nhiêu nạn nhân “tiền mất tật mang” và mất cả tính mạng vì những lọai “thần dược” như vậy đang mặc sức tung hoành mà chẳng thấy ngành y tế có động tĩnh gì đáng kể. Việc vacxin nhập vào VN qua UNICEP đạt chuẩn GMP hay không Bộ Y tế còn chưa biết dẫn tới những tai biến thương tâm, các lọai “thần dược” mặc sức lan tràn khắp hang cùn ngõ hẹp, từ thành thị tới nông thôn không rõ thành phần, tác hại và được bán như kẹo bánh trong tiệm tạp hóa càng chứng tỏ sự tắc trách dẫn tới “bất lực” của ngành này.
Quản lý tắc trách như vậy, người bệnh càng nghèo thêm, nhiều gia đình phải gánh nặng nỗi đau vì những cái chết oan uống của người thân, xã hội bị thiệt hại vì những mất mát phi lý. Chỉ có lợi và thuận tiện cho một số người thiếu trách nhiệm và vô cảm trước số phận của đồng bào mình mà thôi!
25-5-2007

KHÔNG DỤNG ĐƯỢC NGƯỜI TÀI CHÍNH PHỦ CÓ KHUYẾT ĐIỂM!

Hôm qua (20/5/2007) cả nước đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII. “Ngày hội của tòan dân” cùng nhau lựa chọn những người xứng đáng làm đại diện cho mình trong cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước lại trùng hợp với thời điểm phát động phong trào “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Sự trùng hợp nhắc ta nhớ lại tư tưởng của Người về việc tìm kiếm người tài đức ra giúp nước cách nay hơn 60 năm.
Với đầu đề “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu Quốc ngày 20/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà cần kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”.
Ngày nay nước ta có trên 85 triệu người, người tài đức chắc càng không thể thiếu. Vậy mà, đi đâu cũng nghe than phiền thiếu thốn nguồn nhân lực, thiếu những người biết làm việc mỗi khi phải đổ trách nhiệm cho một sự thất bại nào đó. Chẳng hạn như việc ngành tòa án phải “vơ vét” tới anh lái xe, chị đánh máy trong ngành để đào tạo thành thẩm phán khiến cho không ít phiên tòa kém chất lượng thậm chí vi phạm luật dẫn tới oan sai vẫn còn tiếp tục diễn ra cho tới tận hôm nay. Trong khi mỗi năm có hàng ngàn sinh viên luật ra trường được đào tạo bài bản nhưng hầu như có rất ít cơ hội để “người ngọai đạo” tham gia vào ngành “cầm cân nảy mực” công lý này.
Cách tìm kiếm, lựa chọn cán bộ như vậy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc từ hơn nửa thế kỷ trước và cho rằng đây là những chứng bệnh: “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho là họ chắc chắn hơn là người ngòai. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình. Vì những bệnh đó, kết quả là những người kia làm bậy mình cũng bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế cố nhiên là hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”.
Để có thể huy động được người tài đức tham gia việc nước trong những hòan cảnh éo le nhất của lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh dùng người của mình để thực hiện vai trò đại đoàn kết dân tộc vì độc lập tự do của đất nước. Người tuyên bố tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I ngày 31/10/1946: “Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ tòan dân đòan kết và tập hợp nhân tài không đảng phái. Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam. Tuy trong nghị quyết không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”.
Tinh thần dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc tìm kiếm, tập hợp và sử dụng nhân tài cộng với lời cam kết Chính phủ liêm khiết đã biến thành những chủ trương đúng đắn, những động thái thích hợp thu phục được lòng dân giữa lúc tình hình nước đất nước đang rối ren trước nhiều âm mưu chia cắt của ngọai bang. Thực tế lịch sử cho thấy, Chính phủ không đảng phái, liêm khiết, biết làm việc, gan góc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu năm 1946 đã đặt nền móng cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này. Âm vang về những tư tưởng và hành động phù hợp lòng dân của những ngày tháng hào hùng đó còn vọng mãi tới hôm nay.
Chưa bao giờ nước ta lại có một cơ hội lớn để có thể vươn vai bước vào cuộc đua tòan cầu một cách thuận lợi như hiện nay. Nếu tình trạng “nhân tài” vẫn tiếp tục “như lá mùa thu” do di chứng dùng người từ những “căn bệnh” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán nghiêm khắc từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn còn thì không chỉ ngành tòa án mà là cả đất nước ta sẽ khó thể có hy vọng đuổi kịp các nước trong khu vực chứ đừng nói chuyện “sánh vai các cường quốc năm châu”!
21-5-2007

Friday, May 18, 2007

CHỈ CÓ LỢI CHO NGƯỜI GIÀU!

Vào WTO, tham gia cuộc chơi thị trường toàn cầu, không đồng nghĩa với việc cổ phần hóa, tư nhân hóa vô nguyên tắc. Nhất là đối với nguồn tài sản của Nhà nước đang giao cho các doanh nghiệp, các cơ sở hoạt động vì lợi ích công cộng. Các chủ trương cổ phần hóa, tư nhân hóa hay xã hội hóa đều nhắm tới mục tiêu huy động được những nguồn lực tốt nhất để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước mà cuối cùng người được hưởng lợi phải là đại đa số nhân dân. Trong đó có tầng lớp trung lưu chiếm đa số và một bộ phận không nhỏ là những người nghèo.
Mọi nhà nước trên thế giới lấy mục tiêu vì nhân dân phục vụ đều luôn coi trọng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt được chú ý là những tầng lớp có thu nhập thấp. Chủ trương xã hội hóa, cổ phần hóa bệnh viện công cũng cần được cân nhắc trên những mục tiêu này. Bởi vì, nếu phạm sai lầm trên những lĩnh vực mang tính cộng đồng cao như y tế và giáo dục chẳng hạn thì hậu quả khó lường và phải mất rất nhiều thời gian, công sức để khắc phục.
Nhiều ý kiến cho rằng hiện nay Nhà nước đã có chính sách và hành lang luật pháp rất thông thoáng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hệ thống chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh. Các bệnh viện tư nhân hiện đại và quy mô đang xuất hiện ngày càng nhiều nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho những người có điều kiện. Hình thức bệnh viện tư là một trong những biện pháp quan trọng thúc đẩy mạnh xu thế xã hội hóa hệ thống bệnh viện của nước ta trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, chủ trương cổ phần hóa một số bệnh viện công để làm thí điểm tiến tới cố phần hóa hàng trăm bệnh viện công khác trong cả nước là một vấn đề cần phải thận trọng.
Phần lớn quan chức của ngành y tế, đặc biệt là các vị lãnh đạo các bệnh viện công đang chờ cổ phần hóa đều hết sức ủng hộ chủ trương này. Quan điểm của họ là cổ phần hóa giúp cho bệnh viện có điều kiện huy động nguồn lực của xã hội, có cơ chế quản lý tốt hơn, nâng cao chất lượng điều trị, đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của nhân dân tốt hơn. Vị giám đốc một trung tâm y tế nổi tiếng ở TP.Hồ Chí Minh còn lấy bài học Singapore ra để làm chuẩn mực cho chủ trương cổ phần hóa bệnh viện công ở Việt Nam. Vị giám đốc này đặt vấn đề: "Vì sao nhiều người chịu bỏ tiền để vào Singapore chữa bệnh? Bởi các bệnh viện ở đó thỏa mãn được nhu cầu điều trị bằng kỹ thuật cao, chất lượng cao của bệnh nhân. Họ có hệ thống y tế tư nhân cổ phần và những tập đoàn tài chính liên kết với nhau để thực hiện điều đó".
"Đó là cách nhìn nhận vấn đề của người giàu!", rất nhiều ý kiến được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã nhận xét như vậy. Nhiều người nước ngoài và người Việt sinh sống ở nước ngoài về thăm nhà trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, có dịp tới một số bệnh viện tư nhân ở TP.Hồ Chí Minh đã rất ngạc nhiên vì ở Việt Nam hiện đã có những cơ sở khám chữa bệnh hiện đại không thua gì ỡ Mỹ, ở châu Âu. Nhưng trên thực tế, những nơi đó chỉ dành cho người giàu. Cũng như các bệnh viện ở Singapore chỉ thích hợp cho một số người có đủ khả năng. Vậy thì một khi các bệnh viện công đều được cổ phần hóa chất lượng sẽ cao như Singapore và đương nhiên giá cả cũng tăng tương ứng thì giới trung lưu và người nghèo sẽ chữa bệnh ở đâu?
Chưa kể, trong quá trình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã xuất hiện không ít những "lổ hỗng" làm thất thoát tài sản của nhân dân. Các bệnh viện công dự kiến cổ phần hóa sẽ được thẩm định giá theo những nguyên tắc, tiêu chí và cách thức nào để đảm bảo được sự minh bạch? Vừa qua, lãnh đạo Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh cho biết đã định giá bệnh viện Bình Dân là 90 tỷ đồng đã khiến cho nhiều người quan ngại về việc tài sản của Nhà nước lại tiếp tục thất thoát trong khi "thí điểm" cổ phần hóa một số bệnh viện công hàng đầu ở địa phương này.
Cổ phần hóa đòi hỏi phải công khai, minh bạch và phải được sự giám sát chặc chẽ của các cơ quan chức năng, các tổ chức đại diện cho dân. Nếu Nhà nước chưa luật hóa được những nguyên tắc, những tiêu chí tài chính, kỹ thuật, tổ chức, quản lý mà vội vàng cho cổ phần hóa các bệnh viện công thì sẽ dễ dẫn tới những hệ lụy ảnh hưởng rất nặng lên giới trung lưu và những người nghèo một khi chi phí chữa bệnh trở thành gánh nặng của ngân sách gia đình.
23-4-2007