Thursday, May 24, 2007

CĂN BỆNH “VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA” CỦA NGÀNH Y TẾ!

Những tai biến dồn dập sau khi tiêm vacxin viêm gan siêu vi B cho trẻ trong mấy tuần qua đã làm cho các bậc cha mẹ thực sự hoang mang. Những ai đã từng làm cha làm mẹ mới cảm nhận được giây phút ngọt ngào khi bé cất tiếng khóc chào đời và mới có thể thấu hiểu được nỗi đau đớn tột cùng khi phải tận mắt chứng kiến sự ra đi vĩnh viễn của “thiên thần” bé nhỏ một cách đột ngột vì những lý do không đáng có và tệ hại hơn do sự tắc trách của ngành y tế.
Mặc dù hai trong bốn ca tử vong mới đây đã nhanh chóng được kết luận khỏi nguyên nhân do vacxin: bé gái tử vong ở Sơn La là do viêm phổi; bé tử vong ở TP.Hồ Chí Minh là do nhồi máu cơ tim cấp, do thuyên tắc động mạch vành trái. Tuy nhiên, ngành y tế từ lâu đã có quy định 15 điểm để đảm bảo an tòan tiêm chủng, trong đó điểm số 1 là phải khám phân loại trước khi tiêm và phải hoãn tiêm cho những trẻ đang bị sốt, nhiễm trùng cấp tính, có những dấu hiệu bất thường…Trẻ bị bệnh, có những dấu hiệu bệnh lý trước đó mà vẫn tiêm chủng dẫn đến tử vong, trách nhiệm của nhân viên y tế ở đâu?
Sau những tai biến thương tâm của các cháu, Bộ Y tế ngay lập tức “đá quả bóng” cho các nhà cung cấp vacxin: “Vacxin của hãng LG vào VN là do UNICEF và GAVI mua của LG rồi viện trợ cho VN”. Trong khi đại diện của UNICEF thì cho rằng: “Phía VN phải chịu hoàn tòan trách nhiệm trong việc kiểm sóat chất lượng và cho phép vacxin nhập vào VN”. Trước áp lực của dư luận, mới đây Bộ Y tế phải yêu cầu WHO tiến hành thanh tra về “Thực hành tốt sản xuất thuốc” (GMP) của LG tại Hàn Quốc. Bởi vì, “năng lực” kiểm định vacxin của VN tới thời điểm này chỉ là lấy mẫu xác suất từng lô đem tiêm cho chuột. Nếu thấy chuột vẫn bình thường, khỏe mạnh sau khi tiêm là vacxin đạt độ an toàn!
Chưa kể, sự can thiệp của ngành y tế khi có tai biến chậm chạp tới mức khó hiểu. Sau cái chết của hai trẻ ở Hà Tĩnh ngày 23-4-2007 và tiếp theo mấy ca nghi ngờ do vacxin nữa, mãi đến ngày 9-5-2007 Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương và Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh mới có công văn gởi tới các cơ sở y tế trực thuộc yêu cầu tạm ngừng vacxin viêm gan siêu vi B do LG sản xuất. Thế nhưng, tới ngày 16-5-2007, Khoa phụ sản Bệnh viện Đại học Y Dược cách Sở Y tế có vài cây số mới nhận được công văn này. Ở các tuyến xa hơn, có lẽ thông tin “hỏa tốc” còn tới muộn hơn nhiều!
Sự tắc trách của ngành y tế đôi khi khiến người dân phải tự hỏi các chương trình, các họat động tác nghiệp của ngành có thực sự hướng tới lợi ích vì cộng đồng hay không? Không chỉ ví dụ về những trường hợp tai biến vacxin nói trên, chuyện giá thuốc leo thang liên tục hàng năm khiến ngành y tế “bó tay” còn nhân dân “trắng tay” mỗi khi bị đau bệnh đã là vấn đề nghiêm trọng. Từ đầu năm 2007 tới nay ít nhất đã có ba lần giá thuốc leo thang ngang nhiên bất chấp những “điệp khúc” rất quyết liệt về sự tăng cường quản lý giá thuốc của Bộ Y tế. Khi căn bệnh “viêm màng túi” của bệnh nhân ngày càng nặng, người ta buộc phải tự hỏi sự “bất lực” trong quản lý giá thuốc phải chăng là căn bệnh “vô phương cứu chữa” của ngành Y tế Việt Nam? Đã gần hai năm sau khi Luật Dược được ban hành các ngành chức năng vẫn chưa cho ra được các thông tư mới để hướng dẫn thi hành việc quản lý giá thuốc. Do “bất lực” hay do những động cơ, lợi ích cục bộ, cá nhân nào đó?
Chưa kể, ngành y tế nước nhà còn “phó mặc cho dân chúng” tự xử các vấn đề của cộng đồng khi làm ngơ trước các hiện tượng kiểu như “thần dược cứu nhân vật”. Không thể thống kê hết có bao nhiêu nạn nhân “tiền mất tật mang” và mất cả tính mạng vì những lọai “thần dược” như vậy đang mặc sức tung hoành mà chẳng thấy ngành y tế có động tĩnh gì đáng kể. Việc vacxin nhập vào VN qua UNICEP đạt chuẩn GMP hay không Bộ Y tế còn chưa biết dẫn tới những tai biến thương tâm, các lọai “thần dược” mặc sức lan tràn khắp hang cùn ngõ hẹp, từ thành thị tới nông thôn không rõ thành phần, tác hại và được bán như kẹo bánh trong tiệm tạp hóa càng chứng tỏ sự tắc trách dẫn tới “bất lực” của ngành này.
Quản lý tắc trách như vậy, người bệnh càng nghèo thêm, nhiều gia đình phải gánh nặng nỗi đau vì những cái chết oan uống của người thân, xã hội bị thiệt hại vì những mất mát phi lý. Chỉ có lợi và thuận tiện cho một số người thiếu trách nhiệm và vô cảm trước số phận của đồng bào mình mà thôi!
25-5-2007

KHÔNG DỤNG ĐƯỢC NGƯỜI TÀI CHÍNH PHỦ CÓ KHUYẾT ĐIỂM!

Hôm qua (20/5/2007) cả nước đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII. “Ngày hội của tòan dân” cùng nhau lựa chọn những người xứng đáng làm đại diện cho mình trong cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước lại trùng hợp với thời điểm phát động phong trào “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Sự trùng hợp nhắc ta nhớ lại tư tưởng của Người về việc tìm kiếm người tài đức ra giúp nước cách nay hơn 60 năm.
Với đầu đề “Tìm người tài đức” đăng trên báo Cứu Quốc ngày 20/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà cần kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận”.
Ngày nay nước ta có trên 85 triệu người, người tài đức chắc càng không thể thiếu. Vậy mà, đi đâu cũng nghe than phiền thiếu thốn nguồn nhân lực, thiếu những người biết làm việc mỗi khi phải đổ trách nhiệm cho một sự thất bại nào đó. Chẳng hạn như việc ngành tòa án phải “vơ vét” tới anh lái xe, chị đánh máy trong ngành để đào tạo thành thẩm phán khiến cho không ít phiên tòa kém chất lượng thậm chí vi phạm luật dẫn tới oan sai vẫn còn tiếp tục diễn ra cho tới tận hôm nay. Trong khi mỗi năm có hàng ngàn sinh viên luật ra trường được đào tạo bài bản nhưng hầu như có rất ít cơ hội để “người ngọai đạo” tham gia vào ngành “cầm cân nảy mực” công lý này.
Cách tìm kiếm, lựa chọn cán bộ như vậy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán nghiêm khắc từ hơn nửa thế kỷ trước và cho rằng đây là những chứng bệnh: “Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho là họ chắc chắn hơn là người ngòai. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. Ham dùng những người tính hợp với mình mà tránh những người tính tình không hợp với mình. Vì những bệnh đó, kết quả là những người kia làm bậy mình cũng bao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng. Đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù. Như thế cố nhiên là hỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo”.
Để có thể huy động được người tài đức tham gia việc nước trong những hòan cảnh éo le nhất của lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh dùng người của mình để thực hiện vai trò đại đoàn kết dân tộc vì độc lập tự do của đất nước. Người tuyên bố tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I ngày 31/10/1946: “Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan phát tài. Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ tòan dân đòan kết và tập hợp nhân tài không đảng phái. Tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân, trước thế giới: Tôi chỉ có một Đảng, Đảng Việt Nam. Tuy trong nghị quyết không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”.
Tinh thần dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc tìm kiếm, tập hợp và sử dụng nhân tài cộng với lời cam kết Chính phủ liêm khiết đã biến thành những chủ trương đúng đắn, những động thái thích hợp thu phục được lòng dân giữa lúc tình hình nước đất nước đang rối ren trước nhiều âm mưu chia cắt của ngọai bang. Thực tế lịch sử cho thấy, Chính phủ không đảng phái, liêm khiết, biết làm việc, gan góc do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu năm 1946 đã đặt nền móng cho những thắng lợi của cách mạng Việt Nam sau này. Âm vang về những tư tưởng và hành động phù hợp lòng dân của những ngày tháng hào hùng đó còn vọng mãi tới hôm nay.
Chưa bao giờ nước ta lại có một cơ hội lớn để có thể vươn vai bước vào cuộc đua tòan cầu một cách thuận lợi như hiện nay. Nếu tình trạng “nhân tài” vẫn tiếp tục “như lá mùa thu” do di chứng dùng người từ những “căn bệnh” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán nghiêm khắc từ hơn nửa thế kỷ trước vẫn còn thì không chỉ ngành tòa án mà là cả đất nước ta sẽ khó thể có hy vọng đuổi kịp các nước trong khu vực chứ đừng nói chuyện “sánh vai các cường quốc năm châu”!
21-5-2007

Friday, May 18, 2007

CHỈ CÓ LỢI CHO NGƯỜI GIÀU!

Vào WTO, tham gia cuộc chơi thị trường toàn cầu, không đồng nghĩa với việc cổ phần hóa, tư nhân hóa vô nguyên tắc. Nhất là đối với nguồn tài sản của Nhà nước đang giao cho các doanh nghiệp, các cơ sở hoạt động vì lợi ích công cộng. Các chủ trương cổ phần hóa, tư nhân hóa hay xã hội hóa đều nhắm tới mục tiêu huy động được những nguồn lực tốt nhất để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước mà cuối cùng người được hưởng lợi phải là đại đa số nhân dân. Trong đó có tầng lớp trung lưu chiếm đa số và một bộ phận không nhỏ là những người nghèo.
Mọi nhà nước trên thế giới lấy mục tiêu vì nhân dân phục vụ đều luôn coi trọng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt được chú ý là những tầng lớp có thu nhập thấp. Chủ trương xã hội hóa, cổ phần hóa bệnh viện công cũng cần được cân nhắc trên những mục tiêu này. Bởi vì, nếu phạm sai lầm trên những lĩnh vực mang tính cộng đồng cao như y tế và giáo dục chẳng hạn thì hậu quả khó lường và phải mất rất nhiều thời gian, công sức để khắc phục.
Nhiều ý kiến cho rằng hiện nay Nhà nước đã có chính sách và hành lang luật pháp rất thông thoáng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hệ thống chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh. Các bệnh viện tư nhân hiện đại và quy mô đang xuất hiện ngày càng nhiều nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho những người có điều kiện. Hình thức bệnh viện tư là một trong những biện pháp quan trọng thúc đẩy mạnh xu thế xã hội hóa hệ thống bệnh viện của nước ta trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, chủ trương cổ phần hóa một số bệnh viện công để làm thí điểm tiến tới cố phần hóa hàng trăm bệnh viện công khác trong cả nước là một vấn đề cần phải thận trọng.
Phần lớn quan chức của ngành y tế, đặc biệt là các vị lãnh đạo các bệnh viện công đang chờ cổ phần hóa đều hết sức ủng hộ chủ trương này. Quan điểm của họ là cổ phần hóa giúp cho bệnh viện có điều kiện huy động nguồn lực của xã hội, có cơ chế quản lý tốt hơn, nâng cao chất lượng điều trị, đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của nhân dân tốt hơn. Vị giám đốc một trung tâm y tế nổi tiếng ở TP.Hồ Chí Minh còn lấy bài học Singapore ra để làm chuẩn mực cho chủ trương cổ phần hóa bệnh viện công ở Việt Nam. Vị giám đốc này đặt vấn đề: "Vì sao nhiều người chịu bỏ tiền để vào Singapore chữa bệnh? Bởi các bệnh viện ở đó thỏa mãn được nhu cầu điều trị bằng kỹ thuật cao, chất lượng cao của bệnh nhân. Họ có hệ thống y tế tư nhân cổ phần và những tập đoàn tài chính liên kết với nhau để thực hiện điều đó".
"Đó là cách nhìn nhận vấn đề của người giàu!", rất nhiều ý kiến được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã nhận xét như vậy. Nhiều người nước ngoài và người Việt sinh sống ở nước ngoài về thăm nhà trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, có dịp tới một số bệnh viện tư nhân ở TP.Hồ Chí Minh đã rất ngạc nhiên vì ở Việt Nam hiện đã có những cơ sở khám chữa bệnh hiện đại không thua gì ỡ Mỹ, ở châu Âu. Nhưng trên thực tế, những nơi đó chỉ dành cho người giàu. Cũng như các bệnh viện ở Singapore chỉ thích hợp cho một số người có đủ khả năng. Vậy thì một khi các bệnh viện công đều được cổ phần hóa chất lượng sẽ cao như Singapore và đương nhiên giá cả cũng tăng tương ứng thì giới trung lưu và người nghèo sẽ chữa bệnh ở đâu?
Chưa kể, trong quá trình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã xuất hiện không ít những "lổ hỗng" làm thất thoát tài sản của nhân dân. Các bệnh viện công dự kiến cổ phần hóa sẽ được thẩm định giá theo những nguyên tắc, tiêu chí và cách thức nào để đảm bảo được sự minh bạch? Vừa qua, lãnh đạo Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh cho biết đã định giá bệnh viện Bình Dân là 90 tỷ đồng đã khiến cho nhiều người quan ngại về việc tài sản của Nhà nước lại tiếp tục thất thoát trong khi "thí điểm" cổ phần hóa một số bệnh viện công hàng đầu ở địa phương này.
Cổ phần hóa đòi hỏi phải công khai, minh bạch và phải được sự giám sát chặc chẽ của các cơ quan chức năng, các tổ chức đại diện cho dân. Nếu Nhà nước chưa luật hóa được những nguyên tắc, những tiêu chí tài chính, kỹ thuật, tổ chức, quản lý mà vội vàng cho cổ phần hóa các bệnh viện công thì sẽ dễ dẫn tới những hệ lụy ảnh hưởng rất nặng lên giới trung lưu và những người nghèo một khi chi phí chữa bệnh trở thành gánh nặng của ngân sách gia đình.
23-4-2007

Thursday, May 17, 2007

TĂNG TRƯỞNG CHO AI?

Sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ được người dân trong nước ghi nhận mà còn làm cho cộng đồng thế giới thán phục. Tờ New York Times mới đây đánh giá cao việc Việt Nam kiên trì theo đuổi chính sách đổi mới kể từ những năm 1990 và cho rằng Việt Nam đã thành công trong việc giảm số người nghèo đói, có mức sống dưới 1USD/ngày từ 51% năm 1990 xuống còn 8% vào năm ngoái.
Các báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ Việt Nam trước Quốc hội gần đây cũng luôn nhấn mạnh các thành quả đạt được. Đặc biệt trong năm 2006, một năm đầy khó khăn, song theo dự báo của Chính phủ, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều sẽ đạt và vượt kế hoạch.
Thế nhưng những thông tin tốt đẹp đó không hoàn toàn làm yên lòng các vị đại biểu Quốc hội. Bởi lẽ, các báo cáo của Chính phủ vẫn chưa làm rõ được những nguyên nhân dẫn tới các mặt yếu kém, bất cập nảy sinh trong quá trình phát triển cũng như các giải pháp để có thể loại trừ nó.
Bày tỏ sự băn khoăn về chất lượng của sự tăng trưởng, đại biểu Nguyễn Bá Thanh (Đà Nẵng) cho rằng: "Chúng ta có quyền tin tưởng vào sự phát triển của nền kinh tế, nhưng đừng lạc quan quá, rồi tưởng đâu chúng ta đang giàu có lắm, rồi chi tiêu, rồi này khác hết sức lãng phí. Chúng ta còn đang rất nghèo, điểm xuất phát của chúng ta thấp, tăng trưởng của chúng ta 8% chứ trên 10% cũng chỉ có ý nghĩa với chính chúng ta thôi, so với các nền kinh tế thế giới thì chưa là cái gì".
Quan tâm tới chất lượng của sự tăng trưởng là thái độ tích cực của Quốc hội. Điều đó thể hiện trách nhiệm của người đại biểu trước cử tri và vận mệnh của đất nước. Bởi vì, một trong những yếu tố làm nên chất lượng và sự bền vững của tăng trưởng kinh tế lại là các lợi ích thiết thực mà đại đa số người dân được hưởng từ những thành quả đó. Do vậy, trong báo cáo của Chính phủ cần phải có thêm tiêu chí để đo lường được mức độ hài lòng của nhân dân trước mỗi thành quả của sự phát triển. Đánh giá được lòng dân mới là điều hệ trọng mà mỗi chính phủ vì dân đều phải quan tâm trong việc hoạch định chiến lược phát triển bền vững và tránh được các nguy cơ tụt hậu.
Nếu chỉ xem xét các con số ngày một tăng thêm về số lượng các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, các dự án và lợi nhuận của các doanh nghiệp thì chúng ta cũng chỉ mới thấy một mặt của sự tăng trưởng. Một mặt khác, có thể diễn tả hoặc không thể diễn tả bằng con số lại là số phận của bao nhiêu người bị mất đất không được đền bù thỏa đáng, thậm chí có không ít người dân không còn nơi nương tựa, trở thành kẻ vô gia cư do chính sách đền bù giải tỏa của chúng ta có vấn đề. Cũng không loại trừ do một bộ phận cán bộ thoái hóa biến chất xử lý các tình huống không đúng chính sách, tạo ra hàng loạt những người dân mất đất một cách oan ức dẫn tới khiếu kiện liên miên, kéo dài. Tình trạng quy hoạch treo vô thời hạn đã khiến cho một khối lượng khổng lồ đất đai bị vô hiệu hóa, nhiều vùng dân cư bị "đóng băng", nhiều vùng đất nông nghiệp trở nên hoang hóa không chỉ làm thiệt hại cho người dân địa phương mà còn tạo ra nguy cơ kéo lùi sự phát triển.
Tệ nạn nhũng nhiễu, sự trì trệ của hệ thống hành chính công dẫn tới nền "văn minh phong bì" vốn đã bị lên án từ lâu và Chính phủ cũng đã hết sức nỗ lực cải cách nhưng kết quả vẫn còn rất khiêm tốn. Báo cáo của Chính phủ thì cho rằng cải cách hành chính 5 năm qua (2001-2005) đã có bước chuyển biến, nhưng các đại biểu Quốc hội nói thẳng thừng rằng đánh giá này là quá cao so với kết quả đạt được và chưa thật sát với thực tiễn. Trên thực tế người dân vẫn chưa hết kêu ca vì luôn bị làm phiền do bộ máy hành chính kém cỏi và chưa thực sự vì dân mang lại.
Thế nhưng đã có một số cuộc "thăm dò ý dân" về mức độ hài lòng của người dân đối với bộ máy hành chính công của một vài thành phố lớn. Kết quả thật bất ngờ, ngay đến những người trong cuộc cũng không thể tin được đó là sự thật. Các con số thống kê cho thấy từ 90 đến 99% người dân được hỏi cho rằng đã hài lòng với chất lượng phục vụ của bộ máy hành chính công. Việc công bố các thông tin như vậy chỉ làm cho người dân thêm ngao ngán về thái độ và phương pháp làm việc của các cơ quan công quyền.
Tăng trưởng và phát triển là mục tiêu mà nền kinh tế Việt Nam phải hướng tới nhưng để cho sự phát triển trở nên bền vững và có ý nghĩa thực sự, các con số tăng trưởng phải thể hiện được tính hiệu quả của nó đối với cộng đồng. Có nghĩa là cần phải hướng tới và đo lường được lợi ích thực sự mà người dân được hưởng từ các thành quả của Chính phủ. Một khi từng thành quả của Chính phủ đều mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân thì những con số tăng trưởng đó mới nhận được sự đồng thuận của cộng đồng.
27-10-2006

ĐỂ HẾT CHẠNH LÒNG!

Nhiều người chạnh lòng khi nghe ông Lý Quang Diệu đánh giá: "Nếu có vị trí số 1 ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người thì Việt Nam không thể xếp sau bất cứ nước nào trong khu vực". Chạnh lòng vì thấy với nhận định trên chúng ta đã bị trách móc khi không đưa được đất nước lên đúng tầm mà lẽ ra phải có.
Cũng ông Lý, trong lần trò chuyện với một nhà lãnh đạo lão thành của Việt Nam khi được khen "ông là một người tài" đã khiêm tốn trả lời: "Tôi chẳng có tài gì. Có chăng là ở chỗ biết sử dụng người tài. Do biết sử dụng người tài nên đất nước Singapore tuy nhỏ bé nhưng vị thế thì lại không nhỏ trên thế giới".
Thuốc tuy đắng, nhưng có thể "đả tật". Sự thật trần trụi có thể làm mất lòng, nhưng nếu cố chấp không nhìn thấy sự thật sẽ chẳng bao giờ biết sai để sửa. Một thực tế đáng buồn đã tồn tại nhiều năm qua trong công tác tổ chức cán bộ của hầu hết các thiết chế trong hệ thống chính trị nước ta là còn rất lúng túng trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài.
Chỉ nói riêng các cơ quan dân cử, về nguyên tắc là nơi mà người dân có quyền lựa chọn những công dân ưu tú nhất để đại diện cho chính mình trong các cơ quan quyền lực của đất nước. Thế nhưng không phải công dân ưu tú nào cũng có thể tự ứng cử hoặc có thể được dân phát hiện giới thiệu ứng cử vào các tổ chức đại diện cho quyền lực của mình một cách dễ dàng. Hiến pháp và Luật pháp hiện hành ghi nhận rất rõ về quyền tự do ứng cử và bầu cử của công dân. Nhưng trên thực tế vẫn còn không ít các vị đại diện cho dân "bị đặt nhầm chỗ" do sự sắp xếp, cơ cấu nên không thể phát huy được tác dụng và hiệu quả như mong muốn của dân. Các chuyên gia về cải cách hành chính cho rằng, HĐND là cơ quan quyền lực cao nhất của địa phương, là cơ quan giám sát các hoạt động của chính quyền địa phương. Vậy mà đại biểu HĐND cũng nằm trong bộ máy UBND thì giám sát cái nỗi gì? Chẳng lẽ đi giám sát chính mình? Như thế chẳng khác nào diễn viên tuồng đóng một lúc hai vai.
Tỷ lệ công dân tự ứng cử hoặc được dân trực tiếp giới thiệu vào các cơ quan quyền lực trong nhiều năm qua là rất thấp, hầu như không đáng kể. Việc công dân tự ứng cử vào các cơ quan quyền lực trong nhiều năm qua chưa trở thành một thói quen, một sinh hoạt bình thường trong đời sống chính trị - xã hội. Đôi khi, ở một vài địa phương "tự ứng cử" còn được coi là một "hiện tượng lạ".
Ông Đặng Văn Khoa, vị đại biểu trúng cử duy nhất trong số 6 người tự ứng cử HĐND TP.Hồ Chí Minh đương nhiệm cho rằng: "Trong một xã hội văn minh, dân chủ, con người muốn đóng góp cho xã hội thì đương nhiên là tự ứng cử. Tất cả mọi người đều phải có cơ hội tự ứng cử, hãy gạt bỏ những suy nghĩ cũ, ức chế và không để rơi vào tình trạng "bị đề cử". Ông Khoa nhấn mạnh: "Tư thế tự ứng cử sẽ khiến cho người ta tự ý thức được rất rõ trách nhiệm cá nhân và tinh thần làm việc nghiêm túc để hoàn thành trách nhiệm đó. Đại biểu của dân mà không có tâm huyết, không có nghĩa khí thì không thể hoàn thành trách nhiệm dân giao phó".
Nước Việt không thiếu nhân tài, để có những người đại diện cho dân thật sự có tâm huyết, tài năng và nghĩa khí không phải là chuyện không thể làm được. Thế nhưng nhân tài nước Việt hình như chưa có điều kiện để cống hiến hết sức mình cho đất nước chỉ vì những quan niệm hẹp hòi, bảo thủ làm xơ cứng các chính sách phát hiện, đào tạo, tuyển dụng nhân sự, khiến cho hoạt động này dẫu đã bước sang thế kỷ 21 vẫn còn mang đậm hơi hướng "cơ cấu" và "xin - cho" theo kiểu "người làng".
Cơ hội và số lượng người tự ứng cử vào các cơ quan dân cử, bộ máy công quyền hay bất kỳ một vị trí nào khác trong guồng máy xã hội phụng sự đất nước chính là thước đo trình độ phát triển dân trí của một quốc gia. Bởi vì, "tự ứng cử" và được dân tín nhiệm bao giờ cũng văn minh, tiến bộ và hiệu quả hơn "bị đề cử" để phải cùng lúc đóng hai vai trong một vở tuồng.
26-01-2007