Friday, May 18, 2007

CHỈ CÓ LỢI CHO NGƯỜI GIÀU!

Vào WTO, tham gia cuộc chơi thị trường toàn cầu, không đồng nghĩa với việc cổ phần hóa, tư nhân hóa vô nguyên tắc. Nhất là đối với nguồn tài sản của Nhà nước đang giao cho các doanh nghiệp, các cơ sở hoạt động vì lợi ích công cộng. Các chủ trương cổ phần hóa, tư nhân hóa hay xã hội hóa đều nhắm tới mục tiêu huy động được những nguồn lực tốt nhất để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước mà cuối cùng người được hưởng lợi phải là đại đa số nhân dân. Trong đó có tầng lớp trung lưu chiếm đa số và một bộ phận không nhỏ là những người nghèo.
Mọi nhà nước trên thế giới lấy mục tiêu vì nhân dân phục vụ đều luôn coi trọng công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đảm bảo phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt được chú ý là những tầng lớp có thu nhập thấp. Chủ trương xã hội hóa, cổ phần hóa bệnh viện công cũng cần được cân nhắc trên những mục tiêu này. Bởi vì, nếu phạm sai lầm trên những lĩnh vực mang tính cộng đồng cao như y tế và giáo dục chẳng hạn thì hậu quả khó lường và phải mất rất nhiều thời gian, công sức để khắc phục.
Nhiều ý kiến cho rằng hiện nay Nhà nước đã có chính sách và hành lang luật pháp rất thông thoáng cho việc thực hiện chủ trương xã hội hóa hệ thống chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh. Các bệnh viện tư nhân hiện đại và quy mô đang xuất hiện ngày càng nhiều nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc sức khoẻ cho những người có điều kiện. Hình thức bệnh viện tư là một trong những biện pháp quan trọng thúc đẩy mạnh xu thế xã hội hóa hệ thống bệnh viện của nước ta trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, chủ trương cổ phần hóa một số bệnh viện công để làm thí điểm tiến tới cố phần hóa hàng trăm bệnh viện công khác trong cả nước là một vấn đề cần phải thận trọng.
Phần lớn quan chức của ngành y tế, đặc biệt là các vị lãnh đạo các bệnh viện công đang chờ cổ phần hóa đều hết sức ủng hộ chủ trương này. Quan điểm của họ là cổ phần hóa giúp cho bệnh viện có điều kiện huy động nguồn lực của xã hội, có cơ chế quản lý tốt hơn, nâng cao chất lượng điều trị, đóng góp cho sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ của nhân dân tốt hơn. Vị giám đốc một trung tâm y tế nổi tiếng ở TP.Hồ Chí Minh còn lấy bài học Singapore ra để làm chuẩn mực cho chủ trương cổ phần hóa bệnh viện công ở Việt Nam. Vị giám đốc này đặt vấn đề: "Vì sao nhiều người chịu bỏ tiền để vào Singapore chữa bệnh? Bởi các bệnh viện ở đó thỏa mãn được nhu cầu điều trị bằng kỹ thuật cao, chất lượng cao của bệnh nhân. Họ có hệ thống y tế tư nhân cổ phần và những tập đoàn tài chính liên kết với nhau để thực hiện điều đó".
"Đó là cách nhìn nhận vấn đề của người giàu!", rất nhiều ý kiến được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây đã nhận xét như vậy. Nhiều người nước ngoài và người Việt sinh sống ở nước ngoài về thăm nhà trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua, có dịp tới một số bệnh viện tư nhân ở TP.Hồ Chí Minh đã rất ngạc nhiên vì ở Việt Nam hiện đã có những cơ sở khám chữa bệnh hiện đại không thua gì ỡ Mỹ, ở châu Âu. Nhưng trên thực tế, những nơi đó chỉ dành cho người giàu. Cũng như các bệnh viện ở Singapore chỉ thích hợp cho một số người có đủ khả năng. Vậy thì một khi các bệnh viện công đều được cổ phần hóa chất lượng sẽ cao như Singapore và đương nhiên giá cả cũng tăng tương ứng thì giới trung lưu và người nghèo sẽ chữa bệnh ở đâu?
Chưa kể, trong quá trình thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước đã xuất hiện không ít những "lổ hỗng" làm thất thoát tài sản của nhân dân. Các bệnh viện công dự kiến cổ phần hóa sẽ được thẩm định giá theo những nguyên tắc, tiêu chí và cách thức nào để đảm bảo được sự minh bạch? Vừa qua, lãnh đạo Sở Y tế TP.Hồ Chí Minh cho biết đã định giá bệnh viện Bình Dân là 90 tỷ đồng đã khiến cho nhiều người quan ngại về việc tài sản của Nhà nước lại tiếp tục thất thoát trong khi "thí điểm" cổ phần hóa một số bệnh viện công hàng đầu ở địa phương này.
Cổ phần hóa đòi hỏi phải công khai, minh bạch và phải được sự giám sát chặc chẽ của các cơ quan chức năng, các tổ chức đại diện cho dân. Nếu Nhà nước chưa luật hóa được những nguyên tắc, những tiêu chí tài chính, kỹ thuật, tổ chức, quản lý mà vội vàng cho cổ phần hóa các bệnh viện công thì sẽ dễ dẫn tới những hệ lụy ảnh hưởng rất nặng lên giới trung lưu và những người nghèo một khi chi phí chữa bệnh trở thành gánh nặng của ngân sách gia đình.
23-4-2007

Thursday, May 17, 2007

TĂNG TRƯỞNG CHO AI?

Sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây không chỉ được người dân trong nước ghi nhận mà còn làm cho cộng đồng thế giới thán phục. Tờ New York Times mới đây đánh giá cao việc Việt Nam kiên trì theo đuổi chính sách đổi mới kể từ những năm 1990 và cho rằng Việt Nam đã thành công trong việc giảm số người nghèo đói, có mức sống dưới 1USD/ngày từ 51% năm 1990 xuống còn 8% vào năm ngoái.
Các báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ Việt Nam trước Quốc hội gần đây cũng luôn nhấn mạnh các thành quả đạt được. Đặc biệt trong năm 2006, một năm đầy khó khăn, song theo dự báo của Chính phủ, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều sẽ đạt và vượt kế hoạch.
Thế nhưng những thông tin tốt đẹp đó không hoàn toàn làm yên lòng các vị đại biểu Quốc hội. Bởi lẽ, các báo cáo của Chính phủ vẫn chưa làm rõ được những nguyên nhân dẫn tới các mặt yếu kém, bất cập nảy sinh trong quá trình phát triển cũng như các giải pháp để có thể loại trừ nó.
Bày tỏ sự băn khoăn về chất lượng của sự tăng trưởng, đại biểu Nguyễn Bá Thanh (Đà Nẵng) cho rằng: "Chúng ta có quyền tin tưởng vào sự phát triển của nền kinh tế, nhưng đừng lạc quan quá, rồi tưởng đâu chúng ta đang giàu có lắm, rồi chi tiêu, rồi này khác hết sức lãng phí. Chúng ta còn đang rất nghèo, điểm xuất phát của chúng ta thấp, tăng trưởng của chúng ta 8% chứ trên 10% cũng chỉ có ý nghĩa với chính chúng ta thôi, so với các nền kinh tế thế giới thì chưa là cái gì".
Quan tâm tới chất lượng của sự tăng trưởng là thái độ tích cực của Quốc hội. Điều đó thể hiện trách nhiệm của người đại biểu trước cử tri và vận mệnh của đất nước. Bởi vì, một trong những yếu tố làm nên chất lượng và sự bền vững của tăng trưởng kinh tế lại là các lợi ích thiết thực mà đại đa số người dân được hưởng từ những thành quả đó. Do vậy, trong báo cáo của Chính phủ cần phải có thêm tiêu chí để đo lường được mức độ hài lòng của nhân dân trước mỗi thành quả của sự phát triển. Đánh giá được lòng dân mới là điều hệ trọng mà mỗi chính phủ vì dân đều phải quan tâm trong việc hoạch định chiến lược phát triển bền vững và tránh được các nguy cơ tụt hậu.
Nếu chỉ xem xét các con số ngày một tăng thêm về số lượng các khu đô thị mới, các khu công nghiệp, các dự án và lợi nhuận của các doanh nghiệp thì chúng ta cũng chỉ mới thấy một mặt của sự tăng trưởng. Một mặt khác, có thể diễn tả hoặc không thể diễn tả bằng con số lại là số phận của bao nhiêu người bị mất đất không được đền bù thỏa đáng, thậm chí có không ít người dân không còn nơi nương tựa, trở thành kẻ vô gia cư do chính sách đền bù giải tỏa của chúng ta có vấn đề. Cũng không loại trừ do một bộ phận cán bộ thoái hóa biến chất xử lý các tình huống không đúng chính sách, tạo ra hàng loạt những người dân mất đất một cách oan ức dẫn tới khiếu kiện liên miên, kéo dài. Tình trạng quy hoạch treo vô thời hạn đã khiến cho một khối lượng khổng lồ đất đai bị vô hiệu hóa, nhiều vùng dân cư bị "đóng băng", nhiều vùng đất nông nghiệp trở nên hoang hóa không chỉ làm thiệt hại cho người dân địa phương mà còn tạo ra nguy cơ kéo lùi sự phát triển.
Tệ nạn nhũng nhiễu, sự trì trệ của hệ thống hành chính công dẫn tới nền "văn minh phong bì" vốn đã bị lên án từ lâu và Chính phủ cũng đã hết sức nỗ lực cải cách nhưng kết quả vẫn còn rất khiêm tốn. Báo cáo của Chính phủ thì cho rằng cải cách hành chính 5 năm qua (2001-2005) đã có bước chuyển biến, nhưng các đại biểu Quốc hội nói thẳng thừng rằng đánh giá này là quá cao so với kết quả đạt được và chưa thật sát với thực tiễn. Trên thực tế người dân vẫn chưa hết kêu ca vì luôn bị làm phiền do bộ máy hành chính kém cỏi và chưa thực sự vì dân mang lại.
Thế nhưng đã có một số cuộc "thăm dò ý dân" về mức độ hài lòng của người dân đối với bộ máy hành chính công của một vài thành phố lớn. Kết quả thật bất ngờ, ngay đến những người trong cuộc cũng không thể tin được đó là sự thật. Các con số thống kê cho thấy từ 90 đến 99% người dân được hỏi cho rằng đã hài lòng với chất lượng phục vụ của bộ máy hành chính công. Việc công bố các thông tin như vậy chỉ làm cho người dân thêm ngao ngán về thái độ và phương pháp làm việc của các cơ quan công quyền.
Tăng trưởng và phát triển là mục tiêu mà nền kinh tế Việt Nam phải hướng tới nhưng để cho sự phát triển trở nên bền vững và có ý nghĩa thực sự, các con số tăng trưởng phải thể hiện được tính hiệu quả của nó đối với cộng đồng. Có nghĩa là cần phải hướng tới và đo lường được lợi ích thực sự mà người dân được hưởng từ các thành quả của Chính phủ. Một khi từng thành quả của Chính phủ đều mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân thì những con số tăng trưởng đó mới nhận được sự đồng thuận của cộng đồng.
27-10-2006

ĐỂ HẾT CHẠNH LÒNG!

Nhiều người chạnh lòng khi nghe ông Lý Quang Diệu đánh giá: "Nếu có vị trí số 1 ở Đông Nam Á thì đó phải là Việt Nam mới xứng đáng. Bởi so sánh về địa chính trị, tài nguyên, con người thì Việt Nam không thể xếp sau bất cứ nước nào trong khu vực". Chạnh lòng vì thấy với nhận định trên chúng ta đã bị trách móc khi không đưa được đất nước lên đúng tầm mà lẽ ra phải có.
Cũng ông Lý, trong lần trò chuyện với một nhà lãnh đạo lão thành của Việt Nam khi được khen "ông là một người tài" đã khiêm tốn trả lời: "Tôi chẳng có tài gì. Có chăng là ở chỗ biết sử dụng người tài. Do biết sử dụng người tài nên đất nước Singapore tuy nhỏ bé nhưng vị thế thì lại không nhỏ trên thế giới".
Thuốc tuy đắng, nhưng có thể "đả tật". Sự thật trần trụi có thể làm mất lòng, nhưng nếu cố chấp không nhìn thấy sự thật sẽ chẳng bao giờ biết sai để sửa. Một thực tế đáng buồn đã tồn tại nhiều năm qua trong công tác tổ chức cán bộ của hầu hết các thiết chế trong hệ thống chính trị nước ta là còn rất lúng túng trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài.
Chỉ nói riêng các cơ quan dân cử, về nguyên tắc là nơi mà người dân có quyền lựa chọn những công dân ưu tú nhất để đại diện cho chính mình trong các cơ quan quyền lực của đất nước. Thế nhưng không phải công dân ưu tú nào cũng có thể tự ứng cử hoặc có thể được dân phát hiện giới thiệu ứng cử vào các tổ chức đại diện cho quyền lực của mình một cách dễ dàng. Hiến pháp và Luật pháp hiện hành ghi nhận rất rõ về quyền tự do ứng cử và bầu cử của công dân. Nhưng trên thực tế vẫn còn không ít các vị đại diện cho dân "bị đặt nhầm chỗ" do sự sắp xếp, cơ cấu nên không thể phát huy được tác dụng và hiệu quả như mong muốn của dân. Các chuyên gia về cải cách hành chính cho rằng, HĐND là cơ quan quyền lực cao nhất của địa phương, là cơ quan giám sát các hoạt động của chính quyền địa phương. Vậy mà đại biểu HĐND cũng nằm trong bộ máy UBND thì giám sát cái nỗi gì? Chẳng lẽ đi giám sát chính mình? Như thế chẳng khác nào diễn viên tuồng đóng một lúc hai vai.
Tỷ lệ công dân tự ứng cử hoặc được dân trực tiếp giới thiệu vào các cơ quan quyền lực trong nhiều năm qua là rất thấp, hầu như không đáng kể. Việc công dân tự ứng cử vào các cơ quan quyền lực trong nhiều năm qua chưa trở thành một thói quen, một sinh hoạt bình thường trong đời sống chính trị - xã hội. Đôi khi, ở một vài địa phương "tự ứng cử" còn được coi là một "hiện tượng lạ".
Ông Đặng Văn Khoa, vị đại biểu trúng cử duy nhất trong số 6 người tự ứng cử HĐND TP.Hồ Chí Minh đương nhiệm cho rằng: "Trong một xã hội văn minh, dân chủ, con người muốn đóng góp cho xã hội thì đương nhiên là tự ứng cử. Tất cả mọi người đều phải có cơ hội tự ứng cử, hãy gạt bỏ những suy nghĩ cũ, ức chế và không để rơi vào tình trạng "bị đề cử". Ông Khoa nhấn mạnh: "Tư thế tự ứng cử sẽ khiến cho người ta tự ý thức được rất rõ trách nhiệm cá nhân và tinh thần làm việc nghiêm túc để hoàn thành trách nhiệm đó. Đại biểu của dân mà không có tâm huyết, không có nghĩa khí thì không thể hoàn thành trách nhiệm dân giao phó".
Nước Việt không thiếu nhân tài, để có những người đại diện cho dân thật sự có tâm huyết, tài năng và nghĩa khí không phải là chuyện không thể làm được. Thế nhưng nhân tài nước Việt hình như chưa có điều kiện để cống hiến hết sức mình cho đất nước chỉ vì những quan niệm hẹp hòi, bảo thủ làm xơ cứng các chính sách phát hiện, đào tạo, tuyển dụng nhân sự, khiến cho hoạt động này dẫu đã bước sang thế kỷ 21 vẫn còn mang đậm hơi hướng "cơ cấu" và "xin - cho" theo kiểu "người làng".
Cơ hội và số lượng người tự ứng cử vào các cơ quan dân cử, bộ máy công quyền hay bất kỳ một vị trí nào khác trong guồng máy xã hội phụng sự đất nước chính là thước đo trình độ phát triển dân trí của một quốc gia. Bởi vì, "tự ứng cử" và được dân tín nhiệm bao giờ cũng văn minh, tiến bộ và hiệu quả hơn "bị đề cử" để phải cùng lúc đóng hai vai trong một vở tuồng.
26-01-2007





NGHỀ "CÔNG BỘC" CỐT ĐỂ AN DÂN!

Một lão nông sống ở xã Bình Phú, tỉnh Bến Tre mới đây phản ánh với báo Đại Đoàn Kết rằng ông quan địa chính của xã này chẳng những từ chối nhận đơn khiếu kiện của dân mà còn ép buộc dân phải rút hết những đơn kiện trước đây mà xã đã...lỡ nhận với những lời lẽ hết sức thô lổ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.
Tức mình, ông nông dân này mang đơn lên cấp trên kiện. Sau đó, đơn lại chuyển về đúng tay ông quan địa chính của xã để ... tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Với một sự nhẫn nại hiếm có, ông nông dân vẫn tiếp tục vác đơn đi gõ nhiều cửa khác ở bên trên. Cuối cùng, các đơn vẫn về nằm trên bàn quan địa chính xã.
Nội dung khiếu kiện của ông nông dân xoay xung quanh việc UBND xã tự ý bán đất của tập đoàn sản xuất nông nghiệp cho một cá nhân không phải là tập đoàn viên và cũng không hề hỏi ý kiến của các thành viên trong tập đoàn. UBND xã sau khi nhận đơn của ông nông dân có văn bản phúc đáp, nhưng càng phúc đáp càng làm cho dân thêm thắc mắc. Bởi lẽ, bản phúc đáp viện dẫn các chứng từ nhằm làm căn cứ cho việc bán đất của xã là hợp pháp, nhưng khi dân hỏi tới các chứng từ đó thì các quan lại đổ cho...những vị tiền nhiệm. Còn các vị đương nhiệm thì tỏ ra không có trách nhiệm phải cung cấp các thông tin này cho dân. Việc giải quyết khiếu kiện của dân ở cấp cơ sở vì vậy không mang lại kết quả, dân không hài lòng, kiện tiếp. Các vị quan xã bị dân kiện tụng vượt cấp, bị áp lực từ trên dội xuống nên càng lúc càng...nổi nóng với dân và đã lựa chọn cách hành xử hết sức thô thiển là xúc phạm dân và ép buộc dân phải rút đơn kiện một cách phi pháp.
Trong đời sống dân cư luôn xảy ra nhiều vụ tranh chấp, trong đó có liên quan tới cách hành xử bất cập của chính quyền địa phương mà cụ thể là của một vài quan chức cơ sở. Đó là những việc rất bình thường, không lớn, không nghiêm trọng nhưng các quan chức địa phương vì lý do gì đó lại giải quyết không thấu tình đạt lý, thái độ cư xử với dân lại thiếu minh bạch khiến cho dân có những suy nghĩ không hay về chính quyền và về sự trong sáng của những người có chức trách ở địa phương. Việc giám sát công tác giải quyết khiếu kiện ở cơ sở hiện nay vẫn chưa được tổ chức chặt chẽ, quy cũ, công khai, minh bạch nên quyền hạn giải quyết vấn đề đôi khi lại rơi vào tay một vài cá nhân có chức quyền. Chưa kể, tình trạng nhận đơn rồi chuyển đơn trở về nơi xuất phát của các cơ quan chức năng hiện nay càng khiến cho việc giải quyết lại chỉ tập trung vào chính nơi phát sinh vấn đề và vào chính những người thiếu trách nhiệm để xảy ra khiếu kiện. Tình trạng luẫn quẫn này càng khiến cho kết quả giải quyết thường rất hạn chế thậm chí còn bị lệch lạc càng làm cho đơn từ khiếu kiện ngày một tăng thêm, quá trình khiếu kiện kéo dài dẫn tới những sự căng thẳng không cần thiết.
Trở lại thái độ của ông quan địa chính xã Bình Phú, tỉnh Bến Tre và bản phúc đáp thiếu minh bạch của UBND xã này trong việc giải quyết khiếu nại của dân, chúng ta càng thấy rõ căn bệnh trầm kha của nền hành chính công ở cấp cơ sở là bệnh thiếu minh bạch và thiếu tôn trọng dân. Hai căn bệnh này càng dễ dàng làm cho dân có suy nghĩ lệch lạc về hệ thống công quyền. Trên thực tế, cần nhìn nhận rằng có những vấn đề không đơn giản và tồn tại qua nhiều thời kỳ, nhiều đời lãnh đạo. Song không thể vì vậy mà những quan chức đương nhiệm có thể dễ dàng "đá quả bóng" trách nhiệm sang cho người khác còn bản thân mình thì lại hùng hổ với dân.
Người dân có quyền đòi hỏi chính quyền giải quyết mọi vấn đề trên cơ sở công khai, minh bạch và đúng pháp luật. Nếu ở cấp cơ sở, nơi gần dân nhất, hiểu rõ hoàn cảnh vụ việc của dân nhất, mà không làm cho dân tin cậy, không giải quyết được thắc mắc của dân trong thẩm quyền của mình, để dân đi kiện vượt cấp thì rõ ràng chính quyền cơ sở đã tỏ ra rất thiếu trách nhiệm và xa rời dân.
"Công bộc" của dân mà không biết cách lắng nghe dân, từng bước giải quyết các vấn đề của dân một cách công khai, minh bạch khiến cho dân tin vào chính quyền và "an cư lạc nghiệp" thì còn ai làm được việc này nữa?
24-11-2006

MINH BẠCH KHÔNG SỢ CÔNG KHAI

Hôm qua, 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng sức ép cạnh tranh lên toàn bộ nền kinh tế và cả trong việc vận hành của bộ máy nhà nước. WTO không chỉ là sân chơi của các doanh nghiệp, nó còn là cuộc chạy đua của các nhà nước trong việc hoạch định kế hoạch phát triển và lựa chọn giải pháp để đảm bảo tốc độ về đích của mỗi quốc gia trong khuôn khổ một luật chơi chung. Tuy nhiên, những thách thức khi gia nhập WTO sẽ được bù đắp bởi quyền lợi của trên 80 triệu dân Việt Nam cũng sẽ được gia tăng. Trước hết, đó là cơ hội tốt cho mọi người dân với tư cách là người tiêu dùng. Họ sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn, đón nhận các sản phẩm đa dạng và chất lượng hơn. Thị trường sẽ trở nên minh bạch hơn bởi các thông tin luôn được công khai, luôn được cập nhật nhằm cung cấp những cơ hội tốt nhất, nhanh nhất giúp cho mọi người tiêu dùng có thể đưa ra sự lựa chọn thích hợp nhất với mình.
Việc vận hành của hệ thống thị trường luôn hướng tới người tiêu dùng, cũng tương tự như hiệu quả vận hành của bộ máy công quyền luôn phải hướng tới việc lấy "sự hài lòng của dân" làm mục tiêu tối thượng. Nhưng làm sao dân có thể hài lòng được một khi thông tin về bộ máy công quyền thường xuyên không được công khai, không được cập nhật, dẫn tới hệ quả thiếu minh bạch trong việc vận hành hệ thống này.
Trước hết là những thông tin về tài sản cá nhân của các quan chức cao cấp của bộ máy công quyền, những người được nhân dân giao trọng trách và quyền hạn to lớn. Đã có không ít hội nghị, đã tốn rất nhiều giấy mực để chính phủ bày tỏ quyết tâm công khai hóa bằng việc kê khai tài sản cán bộ công chức giữ các vị trí chủ chốt trước khi nhận nhiệm vụ, nhưng việc thực hiện nghe ra hãy còn nhiêu khê lắm. Chưa hề có một thông tin công khai nào về vấn đề này để nhân dân tham khảo. Để nhân dân có thể thực thi quyền giám sát của mình đối với sự "phát triển" tài sản của các cá nhân "có chức có quyền".
Trong các chính sách nhà nước có liên quan tới số đông dân chúng, chúng ta đã từng chứng kiến rất nhiều trường hợp "hành dân" kéo dài bởi những thông tin được "bí mật" không cần thiết. Dễ thấy nhất là những thông tin về quy hoạch, giải tỏa, đền bù... Những thông tin loại này vốn gắn liền với đời sống sinh hoạt và quyền lợi của một khu vực dân cư rộng lớn, thế nhưng rất nhiều năm qua vẫn luôn được các cơ quan chức năng công bố...nhỏ giọt. Hoặc chỉ công bố khi rất nhiều quan chức tham gia quy hoạch đã "thôn tính" xong những phần đất tốt nhất cho mình, cho người thân và cho các "sếp" có liên quan tới "cái ghế" của mình. Gần đây, việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu lãnh đạo các cấp phải công khai các khoản chi tiêu bằng ngân sách nhà nước cũng chính là một cách minh bạch hóa hoạt động của bộ máy công quyền bắt đầu từ những người lãnh đạo. Người dân cần biết, ngân sách nhà nước, cũng có nghĩa là tiền thuế của dân, có được chi tiêu đúng nơi, đúng lúc phục vụ cho lợi ích của toàn dân và những mục tiêu phát triển đất nước hay không?
Để minh bạch hóa các hoạt động của bộ máy nhà nước không còn con đường nào khác là phải công khai hoá các thông tin về hệ thống này cũng như những thông tin về từng thành viên của nó. Mọi người dân có quyền được tham khảo các thông tin đó để có thể thực thi đầy đủ nhất quyền giám sát của mình đối với bộ máy công quyền. Trên cơ sở thực thi đầy đủ nhất quyền giám sát của nhân dân, việc đấu tranh chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy nhà nước từ phía người dân cũng như từ phía những tổ chức xã hội độc lập mới có thể trở thành hiện thực. Bởi vì, nếu bộ máy công quyền vẫn còn quá nhiều vùng tối, vùng cấm; người dân vẫn còn đứng bên lề của quy trình kiểm soát thông tin liên quan tới việc vận hành của bộ máy công quyền thì việc xây dựng một "nhà nước trong suốt" không có tiêu cực, không còn tham nhũng chỉ là chuyện "mua vui cũng được một vài trống canh".
12-01-2007