Thursday, May 17, 2007

CHI TIÊU ĐÚNG ĐỂ CHẤN HƯNG GIÁO DỤC

Đã bắt đầu một năm học mới. Cũng là thời điểm mà ngành giáo dục Việt Nam đang gặp phải nhiều “sự cố” nhất từ trước đến nay. Thực ra, những tiêu cực gần đây của ngành giáo dục không phải là quá mới lạ, hay quá cá biệt. Chúng chỉ là một phần rất nhỏ vừa nhô lên của tảng băng khổng lồ vốn đã tích tụ từ rất nhiều năm qua.
Trên diễn đàn công khai gần đây cũng đã xuất hiện nhiều ý kiến rất tâm huyết bày tỏ lòng khao khát chấn hưng nền giáo dục nước nhà và xem đó như là mệnh lệnh cấp thiết của cuộc sống. Nếu như chúng ta thực sự muốn đất nước thoát ra khỏi lòng luẩn quẩn đói nghèo - lạc hậu và mãi mãi kém phát triển.
“Nói không với tiêu cực và bệnh thành tích” là một bước đột phá rất đáng hoan nghênh của ngành giáo dục. Đồng thời thể hiện rất rõ quyết tâm của vị Tân Bộ trưởng mong muốn thực hiện một sự thay đổi về chất trong công tác của toàn ngành. Tuy nhiên, giáo dục cũng chỉ là một hệ thống con trong toàn bộ hệ thống xã hội. Giáo dục cũng phải chịu sự chi phối nghiệt ngã của các quy luật xã hội. Một khi hệ thống lớn vẫn còn không ít lỗi cơ bản thì sự vận hành của hệ thống con hẳn sẽ rất khó khăn để có thể tự mình “lột xác” được. Nói như vậy để thấy rằng nếu muốn làm một cú đột phá thay đổi về chất của hoạt động giáo dục cần có sự tham gia của toàn xã hội. Tất nhiên, đó là sự tham gia tích cực theo chiều hướng lành mạnh chứ không thể tiếp tục sự tham gia thụ động theo kiểu “chạy trường, chạy thành tích, chạy bằng cấp, chạy dự án” nhà trường – gia đình và xã hội vừa là “đồng tác giả, vừa là đồng nạn nhân”… như trước đây.
Cũng cần thấy rằng các nguồn lực đầu tư cho sự nghiệp phát triển giáo dục ở Việt Nam trong những năm qua là không nhỏ. Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên viên thống kê cao cấp của Liên hiệp quốc, đã từng đưa ra những con số về chi tiêu cho giáo dục của Việt Nam khiến cho nhiều người phải giật mình. Theo đó, chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam từ năm 2000-2005 là con số rất lớn so với thu nhập của người dân và thu nhập cả nước. Cụ thể chi tiêu cho giáo dục ở Việt Nam năm 2005 chiếm 8,9% GDP (vượt cả Mỹ chỉ có 7,2%, Pháp 6,1%, Nhật 4,7%). Trong chi tiêu trên, dân các nước phát triển cao chỉ phải trả khoảng 20%, trong khi dân Việt Nam phải chi trả từ 40-50% , phần còn lại do nhà nước chi trả. Gần đây, các phụ huynh ở TP.HCM sẵn sàng chi từ 2.000USD trở lên để “chạy” một chỗ học cho con tại trường PTTH chất lượng cao Lê Quý Đôn cũng đã phần nào chứng minh được khả năng chi tiêu cho giáo dục của dân chúng. Điều đáng buồn là kiểu “chi tiêu” đó chỉ làm cho giáo dục Việt Nam thêm tiêu cực và trì trệ.
Về phía nhà nước, việc quản lý nguồn chi cho giáo dục cũng chưa phải là hoàn hảo. Các nhà quan sát cho rằng, trong lĩnh vực giáo dục hiện có không ít các dự án đang vận hành tiêu cực không thua gì PMU-18 của ngành GTVT. Dư luận đã từng lên tiếng về các dự án đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, dự án đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học, dự án xoá mù chữ trở lại và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi cho các vùng khó khăn… mỗi dự án “ngốn” hàng trăm triệu USD tiền vay mượn của nước ngoài (tuy là vay ưu đãi, nhưng vẫn là nợ phải trả) được “phân phối” cho những cán bộ cao cấp của Bộ GD&ĐT quản lý và thực hiện theo kiểu mạnh ai nấy làm một cách tùy tiện. Rất nhiều PMU mẹ, PMU con, PMU biến tướng đủ kiểu đã mọc lên như nấm trong quá trình thực hiện các dự án hàng trăm triệu USD này. Đến nay, ngành giáo dục Việt Nam vẫn chưa thể đưa ra được một đánh giá chính thức nào về kết quả thực hiện các dự án nói trên.
Việc sử dụng tùy tiện kinh phí của các dự án nâng cao chất lượng giáo dục trong thời gian qua càng được minh chứng hùng hồn hơn trong trường hợp của ông cựu bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển khi ông được đề án đào tạo cán bộ tại nước ngoài của ngành giáo dục (đề án 322) cử đi du học tại Anh và được thanh toán bằng tiền nhà nước. Quyết định cử ông Hiển đi học tiếng Anh tại vương quốc Anh bằng kinh phí của đề án 322 do Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Văn Nhung phê duyệt. Trong bốn tháng học tiếng Anh, ông Hiển được nhận mức học bổng 860 USD/tháng và toàn bộ khoản học phí 2.000 bảng Anh cũng do đề án 322 chi trả. Ngoài ra, trong một tháng cuối cùng công tác tại Anh, ông Hiển sẽ được nhận công tác phí khoảng 3.000 USD, chủ yếu để chi trả tiền chỗ ở trong thời gian ở Anh. Đây được xem là trường hợp cá nhân duy nhất được đặc cách sử dụng kinh phí của đề án 322 từ khi đề án được triển khai. Được biết, yêu cầu về độ tuổi của đối tượng tham gia đề án tối đa là 50, trong khi ông Hiển đã 59 tuổi.
Chi tiêu cho giáo dục theo kiểu như thế này thì biết đến bao giờ mới có người hiền tài để chấn hưng giáo dục Việt Nam đây? Chưa nói đến chuyện lựa chọn cán bộ được đào tạo ở nước ngoài như thế liệu họ có thể làm được gì cho dân cho nước! Tiền dự án, tiền vay mượn của nước ngoài, tiền ngân sách nhà nước… phải chăng có thể trở thành “bổng lộc” để các quan thoải mái chia chác cho nhau?
08-9-2006

CHUẨN BỆNH ĐÚNG SẼ TRỊ ĐƯỢC BỆNH

Lần đầu tiên việc sử dụng tiền đóng thuế của dân đã được công khai hoá trong một báo cáo của cơ quan kiểm toán nhà nước về kết quả kiểm toán ngân sách quốc gia năm 2005. Theo phân tích của các chuyên gia, kiểm toán tài chính cũng giống như “khám sức khoẻ” cho nền công vụ và việc công khai kết quả “khám sức khoẻ” này được coi là rất cần thiết cho việc làm lành mạnh hóa nền tài chính công.
Thực ra việc kiểm toán này chỉ mới tiến hành trên cơ sở chưa đầy một nửa của nền tài chính quốc gia, nhưng theo ông Vương Đình Huê, Tổng Kiểm toán Nhà nước, những vấn đề mà Kiểm toán Nhà nước phát hiện trong quá trình kiểm toán các bộ ngành, các địa phương cũng đã thể hiện được tương đối đầy đủ thực trạng diện mạo sử dụng ngân sách của các cơ quan nhà nước hiện nay.
Kiểm toán đã chỉ rõ một số bất cập, khuyết điểm và sai phạm xảy ra nhiều năm qua vẫn chưa có biện pháp khắc phục như: dự toán nhiều địa phương lập và được giao chưa tích cực và sát thực tế; dự toán thu sự nghiệp thấp hơn nhiều so với thực hiện năm trước; các khoản để lại chi quản lý qua ngân sách tại các địa phương không được giao dự toán hoặc giao thấp hơn nhiều so với thực tế; chi hành chính ở nhiều địa phương vượt dự toán rất cao; sử dụng dự phòng không đúng mục đích; ghi thu, ghi chi ngân sách các khoản thu để lại chi quản lý qua ngân sách không kịp thời, đầy đủ; sử dụng vượt thu không đúng thẩm quyền.
Báo cáo kiểm toán càng củng cố thêm nhận định của dư luận trong nhiều năm qua về “căn bệnh” của nền tài chính công: không tuân thủ pháp luật ở các cơ quan công quyền; chi sai nguyên tắc; tình trạng tham nhũng, lãng phí, trốn thuế, lập quĩ đen tràn lan ở các doanh nghiệp và bộ ngành. Còn hiệu quả kinh doanh khu vực doanh nghiệp nhà nước thì vô cùng tệ hại, thua lỗ triền miên và tỉ suất lợi nhuận trước thuế ở những tổng công ty hầu hết chỉ đạt chưa tới 0,5%. Tài chính doanh nghiệp nhà nước là một trong những nội dung rất quan trọng của kiểm toán tài chính ngân sách quốc gia. Bởi vì nếu kiểm toán cụ thể, chi li được vấn đề này thì sẽ thấy hiệu quả đầu tư mà doanh nghiệp nhà nước đem lại, tỉ suất lợi nhuận của những đồng vốn mà ngân sách chi ra cho các doanh nghiệp nhà nước là bao nhiêu. Điều này hết sức quan trọng vì với cơ cấu trong tổng sản phẩm trong nước của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay là 38% GDP, trên 60% tổng số tín dụng, phần lớn tài nguyên đất đai, khoáng sản và hầu hết cán bộ khoa học được đào tạo tốt nằm tại khu vực doanh nghiệp nhà nước thì sẽ thấy nếu khu vực nhà nước hoạt động hiệu quả hơn thì kết quả đem lại đối với nguồn thu sẽ tăng rất cao. Thế nhưng trên thực tế, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang thực sự trở thành gánh nặng cho ngân sách quốc gia và nền kinh tế quốc dân. Nếu liên hệ với những con số không tưởng về tỉ lệ nợ lên đến 82% trên tổng nguồn vốn từ khu vực DNNN và tỉ suất lợi nhuận trước thuế chưa tới 0,5% - so với lãi suất đi vay khoảng 10%/năm - và cùng với số lỗ lũy kế lên tới hàng ngàn tỉ đồng ở hàng loạt tổng công ty lớn như Vinashin hay Tổng công ty Dệt may, thì không thể tưởng tượng được lấy tiền ở đâu mà các công ty này có thể tồn tại cho đến giờ nếu không phải là từ nguồn tiền ngân sách cấp trực tiếp hoặc gián tiếp (như vụ “bơm” 750 triệu đôla trái phiếu quốc tế cho Vinashin), và làm sao mà các tổng công ty này có thể trả được nợ trong nước và nước ngoài khi mà tỉ suất lợi nhuận trước thuế thấp hơn 20 lần so với lãi suất đi vay?
Kết quả kiểm toán cũng đã chỉ rõ rằng việc quản lý đầu tư xây dựng cơ bản của các bộ ngành chức năng còn nhiều bất cập, yếu kém ở cả ba khâu: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, quyết toán công trình đưa vào sử dụng; việc mua sắm, quản lý tài sản tại các ban quản lý dự án còn lỏng lẻo. Đặc biệt là qua kiểm toán, Kiểm toán Nhà nước cũng đã phát hiện và chỉ rõ tình trạng nhiều lệnh phát sinh tại các dự án đấu thầu không đúng thủ tục, không chấp hành các điều khoản thanh toán của hợp đồng, kiến nghị việc thu hồi các khoản vốn sử dụng sai. Ví dụ như chỉ riêng tại dự án quốc lộ 18 đoạn Nội Bài - Bắc Ninh do PMU18 làm chủ đầu tư, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị xuất toán và giảm trừ quyết toán gần 50 tỉ đồng, gần bằng 10% giá trị được kiểm toán. Tổng hợp kết quả kiểm toán năm 2005 đối với niên độ ngân sách năm 2004, Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện, kiến nghị tăng thu, giảm chi, đưa vào quản lý qua ngân sách 4.408 tỉ đồng.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích: nếu dùng kính lúp để soi từng từ trong báo cáo kiểm toán, hầu như không có bất kỳ nhận định hay kiến nghị nào liên quan đến tham nhũng hay thận trọng hơn là “có dấu hiệu của tham nhũng”, mà chỉ có những kết luận chung chung như “tính toán thiếu thận trọng”, trong khi tham nhũng và lãng phí ở khu vực công quá ư là hiển nhiên. Dường như vẫn còn điều gì đó khiến cho Kiểm toán Nhà nước vẫn chưa dám đột phá vào sự thật.
Dẫu sao, việc công khai báo cáo kiểm toán ngân sách quốc gia cũng là một bước tiến lớn của Việt Nam chứng tỏ nền tài chính công đang dần dần đi vào xu hướng minh bạch và công khai hoá. Đó cũng là một yêu cầu tất yếu để Việt Nam có thể hội nhập cùng thế giới và đặt bước chân đầu tiên vào sân chơi toàn cầu WTO. Tuy nhiên, dù đã dám đụng chạm tới một số lĩnh vực khá nhạy cảm nhưng kết luận của Kiểm toán Nhà nước về tình hình ngân sách quốc gia năm 2005 vẫn chưa thực sự làm hài lòng các nhà phân tích và sự mong mỏi của công chúng khi chưa mạnh dạn tuyên chiến với tham nhũng.
01-9-2006

NGỌC CÀNG MÀI CÀNG SÁNG

117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2007)
Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự thể hiện hết sức giản dị những tư tưởng và hành động của một nhà yêu nước thương dân mẫu mực. Đạo đức của Người không phải là cái gì cao siêu khiến chúng ta không thể học được mà chính là những việc thật bình thường mà chúng ta vẫn làm hằng ngày bằng cái tâm trong sáng.
Theo Người, nói phải đi đôi với làm, trước hết là phải nêu gương tốt. Sự làm gương của thế hệ đi trước đối với thế hệ đi sau, của lãnh đạo đối với nhân viên, của đảng viên đối với quần chúng…là rất quan trọng. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, có đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Muốn có được đạo đức cách mạng, thuyết phục được quần chúng, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu quyết tâm theo đuổi và thực hiện những mục tiêu có lợi cho dân. Người nói: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải cố sức tránh”. Để hạn chế những tấm gương xấu làm mất lòng tin của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thấm nhuần quan điểm “có lợi cho dân” trong mọi suy nghĩ và hành động của mình trong khi thực hiện các chức trách được nhân dân giao phó.
Thế nhưng, trên thực tế hiện nay còn không ít cán bộ nhà nước, ăn lương của dân, nhưng khi làm việc thì chỉ tìm cách “hành” dân tới số, hoặc chỉ làm việc qua loa, đại khái, thiếu minh bạch, thiếu công bằng vì những động cơ vụ lợi, cá nhân. Đó là những biểu hiện đáng báo động về sự thiếu đấu tranh, thiếu rèn luyện phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên và của cả hệ thống tổ chức. Đã từng xuất hiện không ít vụ tham ô, tham nhũng, vi phạm pháp luật trắng trợn làm thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng của nhân dân nhưng các đối tượng liên quan nhiều năm liền vẫn được đánh giá là đảng viên ưu tú, là cơ sở đảng trong sạch vững mạnh. Theo nhận xét của các cơ quan chức năng về phòng chống tham nhũng lãng phí, hầu như chưa có cấp ủy đảng nào tự mình phát hiện ra các vụ tham ô, tham nhũng, lãng phí tại đơn vị để đưa ra xử lý cả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải thông qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành chứ nó không có tự trên trời sa xuống. Phẩm chất đạo đức cách mạng cũng như ngọc quý càng mài càng sáng, vòng ròng càng luyện càng trong. Theo Người: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”. Người khẳng định, ở đời ai cũng có cái hay cái dỡ, chỗ tốt chỗ xấu, ai cũng có thiện có ác ở trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để phát huy và thấy rõ cái dỡ, cái xấu, cái ác để khắc phục. Tu dưỡng đạo đức trước hết phải là một quá trình tự rèn luyện của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức và toàn hệ thống trong mọi hoạt động thực tiễn, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng, trong các mối quan hệ xã hội của mỗi người.
Đối với cán bộ, đảng viên lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc họ phải là tấm gương mẫu mực cho quần chúng noi theo. Người nói: “Nếu mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”…Người khuyên cán bộ phải cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, phải thực sự là “đầy tớ trung thành” của nhân dân. Cuộc đời Người đã là tấm gương sáng cho mọi thế hệ noi theo: giản dị, thanh bạch, khiêm tốn, suốt đời chỉ có nỗi lo cho dân, cho nước mau độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh. Người nói: “Cán bộ đảng, chính quyền, ngay cả Bác là cán bộ cao nhất nữa, cũng đều là đầy tớ của nhân dân”.
Trước sự xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ có chức có quyền làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là một hành động cấp thiết đáp ứng được lòng mong mõi của nhân dân. Trước hết, theo Tổng bí Thư Nông Đức Mạnh, mỗi ủy viên trung ương Đảng và gia đình của mình phải là tấm gương trong xã hội về cuộc sống trong sạch, liêm khiết để xứng đáng là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.
18-5-2007

TẢN MẠN NGHỀ BÁO

Làm báo, dù ở đâu trên trái đất này, cũng là một nghề thật khắc nghiệt. Hàng năm, tổ chức nhà báo thế giới luôn có những con số thống kê lên đến hàng trăm nhà báo bị giết chết và hàng ngàn nhà báo bị hành hung hoặc bị đe dọa bởi rất nhiều lý do khác nhau. Một cuộc điều tra lao động tại Pháp vào những năm 90 của thế kỷ trước cho thấy, cường độ lao động cao và môi trường làm việc khắc nghiệt của nghề báo chỉ thua thợ mỏ làm việc trong hầm lò. Vậy mà cũng những năm đó, một trong những nghề nghiệp yêu thích nhất của thanh niên Pháp qua một cuộc điều tra xã hội lại chính là nghề báo. Liệu có gì mâu thuẫn không?
Nước ta vừa trang trọng kỷ niệm 30 năm kết thúc cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từng tấm ảnh, từng thước phim tư liệu về cuộc chiến được các phóng viên chiến trường của các bên ghi nhận lại sau rất nhiều năm vẫn ngay lập tức làm lay động lòng người và tái hiện lại thật đầy đủ những sự kiện tưởng chừng như đã phủ bụi thời gian. Các nhà báo của thời khắc đó đã vượt qua bao nguy hiểm chỉ để ghi lại những khoảnh khắc lịch sử mà nếu như không có họ, rất nhiều người sẽ còn mơ hồ về những gì đã xảy ra. Có người nói rằng nhà báo chính là người chép sử của thời đại, cũng không sai. Nhưng để chép sử một cách trung thực, đúng như những gì mà thời đại nhà báo đang sống diễn ra, thật không phải là chuyện dễ dàng gì.
Khi xã hội càng văn minh, vai trò của nhà báo càng lớn, vị trí của nhà báo càng cao thì lại càng đòi hỏi ở nhà báo những phẩm chất và năng lực xứng đáng hơn. Báo chí Việt Nam trên đà phát triển của đất nước cũng đã "trăm hoa đua nở"...tạo nên một bầu không khí làm báo khá nóng hổi và từng bước nâng dần công nghệ làm báo gần gũi với các nước phát triển. Công chúng báo chí cũng ngày càng đòi hỏi cao hơn, khó tính hơn, đa dạng hơn và cũng thêm tính phê phán hơn. Thị trường báo chí và nguồn lực nuôi dưỡng sự sống cho các tờ báo và người làm báo ngày càng trở nên dồi dào nhưng cũng nghiệt ngã hơn. Nghề báo Việt Nam thực sự đang đứng trước một bước ngoặt về sự phân hóa.
Những đóng góp rất lớn của báo chí Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, trong cuộc chiến chống tham nhũng, quan liêu, bao cấp, trong xây dựng nền kinh tế thị trường, xây dựng các điển hình trong thời kỳ đổi mới ... đã được các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước ghi nhận một cách trân trọng. Có lẽ không cần thiết phải nhắc lại ở đây. Nhân ngày Báo chí Việt Nam, có lẽ điều mà những nhà báo tâm huyết với nghề cần nghĩ đến là những điều mình còn chưa làm được hoặc là những điều mà mình thấy trái tai gai mắt nhưng hãy còn xuất hiện lúc nhúc trong làng gây nên bao bức xúc.
Kinh tế thị trường phát triển, báo chí phải đáp ứng ngay lập tức các nhu cầu bức thiết của nền kinh tế năng động này là điều cần thiết. Thậm chí cần phải xem xét xu hướng thị trường hoá báo chí một cách xác đáng và lành mạnh. Để tránh tình trạng một số tờ báo thị trường hóa một cách tự phát, vô trách nhiệm với cộng đồng. Hiện tượng này đã xảy ra với một số tờ báo mà những người lãnh đạo của nó chủ trương xem tờ báo như là một công cụ "rót tiền vào túi riêng" và là bổng lộc để phân phát cho vây cánh. Mỗi bài viết, mỗi vụ việc, mỗi đơn từ...đều phải có "thủ tục đầu tiên" cho "sếp" thì mới đựơc giải quyết cho đăng. Tờ báo trở thành mảnh đất cho thuê để những kẻ cơ hội "cày sâu cuốc bẩm, thâm canh tăng năng suất" trên đó bằng nhiều chiêu thức ghê tởm. Đối tượng thường xuyên "bị" các tờ báo như trên nhắm vào là các doanh nghiệp ăn nên làm ra hoặc có vẻ như vậy. Rầt nhiều doanh nghiệp than phiền rằng họ rất "sợ" phóng viên nhà báo, giúp thì ít mà làm phiền thì nhiều. Thậm chí có những "nhà báo" đeo bám doanh nghiệp rất dai dẵng chỉ để "xin" quảng cáo chứ không phải để thực hiện nghiệp vụ báo chí của mình. Để có thể thực hiện những tờ báo như vậy, lãnh đạo các báo loại đó sử dụng một hệ thống phóng viên, nhân viên và cộng tác viên rất hỗn tạp, từ nhiều nguồn khác nhau và đều đựơc giới thiệu đi liên hệ công tác như là những "nhà báo thực thụ", nhưng mục đích cuối cùng của họ không phải là làm báo hay viết báo vì lợi ích của cộng đồng mà chỉ vì ích lợi riêng tư của họ và của "sếp" họ.
Một đối tượng khác nữa mà các tờ báo dạng này cũng thường xuyên nhắm tới đó là những người tham gia vào các vụ tranh chấp, kiện cáo và các quan chức tham nhũng... Nhắm tới không phải để góp phần giải quyết vấn đề theo pháp luật mà là để làm cho vụ việc rối tung lên theo kiểu..."đục nước béo cò". Trong những trường hợp này có một số "nhà báo" còn làm "cò" để bắt cầu cho các giao dịch ngầm diễn ra. Một số trường hợp khác không ít nhà báo chân chính phải đối mặt với một sự chọn lựa nghiệt ngã viết theo yêu cầu của "sếp" hay viết theo lẽ phải? Một khi "sếp" biên tập yêu cầu anh ta phải viết bênh vực một phe tranh chấp trong khi trên hồ sơ và bằng chứng thực tế mọi sự kiện đều chống lại phe được yêu cầu bên vực. Đằng sau tất cả những chuyện này là cái gì đang xảy ra. Khi một phóng viên dưới quyền từ chối yêu cầu của "sếp", cái gì xảy ra tiếp sau đó chắc không cần phải bình luận. Cũng có không ít trường hợp "nhà báo sếp" bán đứng "nhà báo lính lác" chỉ vì đối tượng bị phê phán trong bài báo do "nhà báo lính lác" viết đã tìm ra địa chỉ của "nhà báo sếp" để mà làm công tác vận động...
Nghề cầm bút là một trong những nghề thật nghiệt ngã vì nó không chỉ đòi hỏi năng lực, tài hoa mà còn đòi hỏi người cầm bút phải có tâm. Nguyễn Du xưa từng thốt lên: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"... là muốn nhằm vào những người cầm bút đời sau. Nghề báo bây giờ phần lớn người ta viết bằng...computer. Nhưng xét cho cùng cũng là nghề cầm bút. Vậy nên các nhà báo cũng cần có một chữ tâm thì ngòi bút mới có thể sáng lên được.
Chữ tâm trong nghề báo nhiều người đã nói, nhiều người làm báo đã biết. Nhưng để có nó thực là khó khăn cùng với sự nỗ lực của bản thân cũng phải được rèn luyện trong một môi trường làm việc nghiêm túc, trong sáng. Hiện nay, việc đào tạo "nhà báo tương lai" chưa chuẩn, môi trường để các "nhà báo tương lai" rèn luyện càng ít ỏi nhưng lại chứa nhiều nguy cơ. Nhiều người không có học hành đầy đủ, không còn biết làm gì bèn đăng ký vào một vài tờ báo linh tinh để làm ... "nhà báo", nhưng suốt ngày đi "chạy quảng cáo" và viết những bài ... tự giới thiệu để lấy "nhuận bút" từ các doanh nghiệp.
Làm thế nào để cho càng ngày càng có nhiều các nhà báo "có tâm" đây?
21-6-2005
(Ghi chú: Bài báo này đã bị gác lại trước khi đưa đi in vào dịp 21-6-2005)

Sunday, May 13, 2007

TRƯỞNG THÀNH VÀ TRI ÂN

Nhân Ngày của Mẹ
Một trường trung học ở TP.Hồ Chí Minh lần đầu tiên tổ chức Lễ trưởng thành và tri ân cha mẹ cho những học sinh cuối cấp của mình. Tại buổi lễ, những bài văn hay của các em học sinh viết về công cha, nghĩa mẹ, tình cảm gia đình, thầy trò… được đọc giữa sân trường làm hầu hết các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo xúc động.
Một nét đẹp học đường, một nghi thức trang trọng và nhiều ý nghĩa đã lâu lắm rồi mới trở lại với đời sống văn hoá của ngưòi dân thành phố. Nghi thức đó không chỉ giúp các em học sinh có một dịp trang trọng bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với các thầy cô giáo, với các bậc sinh thành mà còn giúp các em nhận thức rõ hơn về vai trò và trách nhiệm công dân trước khi rời khỏi ghế nhà trường phổ thông chuẩn bị bước vào đời.
Một nghi thức thấm đẫm chất nhân văn và ghi đậm những tình cảm tốt đẹp vào trong ký‎ ức của biết con bao người đang chuẩn bị bước vào đời, lúc đầu chỉ được Ban giám hiệu xem như là một việc làm “thí điểm” để rút kinh nghiệm. Thành công bất ngờ của buổi lễ đã khiến những người lãnh đạo nhà trường “hạ quyết tâm” sẽ phấn đấu tổ chức Lễ trưởng thành và tri ân cho mẹ cho các học sinh cuối cấp của trường thành một ngày hội truyền thống hàng năm.
Các nhà nghiên cứu giáo dục đều thống nhất rằng dạy học thuộc lòng hàng vạn bài luân lý đạo đức không bằng biết cách tổ chức, tập dượt cho học sinh có khả năng thể hiện những tư tưởng tốt và những hành động đẹp trong cuộc sống hàng ngày. Bắt đầu bằng những việc rất nhỏ như sự kính trên nhường dưới, lòng biết ơn và sự chia sẻ với người khác, thái độ hành vi đúng mực nơi công cộng và trong gia đình…Với nguyên tắc ‎ý thức và biết tôn trọng người khác cũng có nghĩa là biết tự trọng các phẩm giá của chính mình. Các nghi thức dù nhỏ hay lớn cũng không nên xem thường và nếu như những người trên, người đi trước biết tôn trọng những nghi thức đó thì sẽ dễ dàng truyền lại cho thế hệ sau những suy nghĩ, cử chỉ và hành động tốt đẹp. Nói cách khác, tôn vinh những giá trị tốt đẹp, những tấm gương sáng ‎ trong cuộc sống là điều tưởng không bao giờ thừa. Và hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, gần gũi nhất chẳng hạn như từ cuộc sống của thầy cô, cha mẹ, các bậc tiền bối… phải thực sự trở thành tấm gương sáng cho con cái và học sinh thân yêu của mình.
Trong bối cảnh nền giáo dục nước nhà còn nhiều điều đáng để phiền lòng, những cố gắng nhỏ nhoi của một trường trung học tại TP.Hồ Chí Minh tạo ra một môi trường giáo dục chuẩn mực thông qua các nghi thức nhằm bồi bổ và khai thông được những sợi dây liên hệ thiêng liêng của tình cảm con người như đã nói trên quả là điều đáng khâm phục.
Buổi lễ không chỉ giúp học sinh trưởng thành mà còn chuẩn bị tâm thế cho các thế hệ học sinh đi sau sẵn sàng nối tiếp những điều tốt đẹp của đàn anh. Không chỉ dừng lại ở những giá trị tốt đẹp mang lại cho các em học sinh-nhân vật chính của nền giáo dục- mà còn ảnh hưởng sâu rộng với các thầy cô giáo và các bậc sinh thành. Sự truyền cảm từ những nghi thức tốt đẹp đó sẽ giúp cho mỗi người tham dự nhận thức được nghĩa vụ thiêng liêng của mình và có thể truyền ra cho xã hội những ‎nguồn năng lượng giàu có để nuôi dưỡng các ‎ ý tưởng và hành vi tốt đẹp dành cho thế hệ trẻ.
Đối với các bậc làm cha mẹ, các thầy cô giáo chân chính không có gì vui sướng bằng nhìn thấy con cái, học trò của mình đã trưởng thành, đủ lông đủ cánh để bước vào cuộc đời một cách tự tin. “Những ai đã từng có mẹ mới hiểu rằng mẹ là tấm gương thật sáng để hun đúc nên ‎ý chí, tinh thần của con…Những ai đã từng không được chung sống với mẹ mới hiểu thế nào là nỗi cô đơn khi thất bại. Những ai từng làm mẹ mới hiểu rằng tình cảm của người mẹ cao quý‎ đến dường nào. Những ai từng làm mẹ mới cảm thấy mình thương mẹ của mình thật nhiều…”. Cảm ơn TS. Huỳnh Văn Sơn, người đã viết những dòng chữ trên trong bài “Món quà cho mẹ: Con đã nên người!”.
Vì vậy, Lễ trưởng thành và tri ân cha mẹ dành cho những học sinh ra trường không thể chỉ là một sinh hoạt khiêm tốn trong khuôn viên của một ngôi trường nằm trên quận 11 của TP. Hồ Chí Minh. Những người quan tâm tới thế hệ trẻ, tới tương lai của dân tộc chắc sẽ mong muốn rằng buổi lễ đó không chỉ là một nghi thức tự phát mà sẽ được những người có trách nhiệm cao nhất xem xét để đưa nó vào trong quy trình chính thức của hệ thống giáo dục nước nhà.
13-5-2007